TS Mai Thanh Truyết-Nói Chuyện ở Chùa Huệ Quang -4-4-2009

http://vietbao.com/?ppid=45&pid=5&nid=142968

VOA-Diễm Hương Phỏng vấn Ts Mai Thanh Truyết

http://www.voanews.com/vietnamese/webcasts.cfm

Viễn Đông-Tường Trình Hội Luận 12/4/2009

Bauxite

Hội luận về nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng


Anh Thành


WESTMINSTER. CA. Hơn 200 đại diện đoàn thể,hội đoàn, nhân sĩ và đồng hương đã đến tham dự cuộc hội luận về việc Trung Cộng khai khác mỏ bauxite ở Tây Nguyên và vấn đề Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa, Trường Sa, tại hội trường Civic Westminster vào chiều ngày Chủ Nhật 12 tháng Tư năm 2009 do Đại Việt Quốc Dân Đảng tổ chức.

Nghi thức khai mạc do Vũ Hải và Biệt Đoàn Văn Nghệ thực hiện.


Trong số quan khách còn có sự hiện diện đặc biệt của Giáo Sư Lê Văn Khoa, cựu Đại Tá Phan Văn Huấn, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù...


Kỷ Sư Trương Sỹ Hoàng, đại diện ban tổ chức trong lời khai mạc đã cám ơn sự quan tâm của các giới trong cộng đồng trước tình hình đất nước.


Ông Hoa Thế Nhân điều hợp chương trình đã giới thiệu diễn giả nói về việc Trung Cộng vào Tây Nguyên khai thác mỏ bauxite.


Diễn giả Mai Thanh Truyết, Tiến Sĩ về hóa học, hiện là Đệ Nhất Phó Chủ tịch của Đại Việt Quốc Dân Đảng đã trình bày bằng những nghiên cứu chuyên môn của ông về việc khai thác mỏ bauxite ở Dăk Nong và Lâm Đồng cùng với 6 vùng khác. Chỉ riêng diện tích khai thác ở DăkNong là 1900 km2 hơn 1/3 diện tích của tỉnh; Lâm Đồng chiếm một diện tích 500km2. Nếu khai thác đúng như dự án cũng còn cần phải có một diện tích tương để chứa đồ phế thải.


Ông cho biết việc khai thác mỏ bauxite ở trên chẳng những đã không có lợi ích gì về kinh tế bao nhiêu mà gây ra những tệ hại về môi sinh, ảnh hưởng đến đời sống, văn hóa và xã hội của các sắc dân thiểu số trong vùng kể trên rất là nhiều.

Dịp này, Tiến sĩ Mai Thanh Truyết đã chỉ rõ nhưng âm mưu xâm lược và khống chế của Trung Cộng không phải chỉ một Việt Nam mà thôi còn nhắm cả vào toàn vùng Đông Nam Á mà Việt Nam chỉ là một bước đầu trong tiến trình xâm lược của Trung Cộng.


Tiến Sĩ Truyết đã vạch rõ âm mưu của Trung Cộng đối với Việt Miên Lào bằng những Xa lộ nối liền từ Vân Nam xuyên qua Đông Dương bằng ba con đường: đường thủy thì Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, đường bộ thì các Xa lộ dọc theo Trường Sơn từ biên giới Việt Hoa chạy dài cho đến miền Nam Việt Nam và qua Campuchia chuyên chở quân trang, quân dụng, vũ khí và binh sĩ. Đường sông bằng cách khơi ngòi, vét lòng vòng sông Mêkông để tầu dầu chở dầu ở biển Nam hải từ Sihanoukville, và Dung Quất đến Vân Nam, Tứ Xuyên, Trung Cộng, cung cấp cho nhu cầu chế tạo vũ khí kể cả các lò nguyên tử cũng nằm ở tại phía Nam Trung Cộng giáp ranh với biên giới phía Bắc Việt Nam.


Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết nói rằng tham vọng thôn tính toàn vùng Đông Nam Á của Trung Cộng là điều có thực. Việt Nam sẽ là trận địa đầu tiên mà Trung Cộng đang mở các chiến dịch thôn tính.


Trong khi đó thì Hà Nội hầu như bị tê liệt, hoàn toàn không có một phản ứng cụ thể nào trước sự xâm lăng trắng trợn như hiện nay đang diễn ra ở Tây Nguyên.


Gần đây nhất, Tân Hoa Xã Trung Cộng loan báo Thủ Tướng Cộng Sản Nguyễn Tấn Dũng đã phê chuẩn một kế hoạch đầu tư 100% của Trung Cộng để phát triển vòng đai kinh tế dọc theo duyên hải miền Bắc hoan tất vào năm 2010.


Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết cho rằng đối với Việt Nam, Trung Cộng đang phục hận vì đã thua tiền nhân của Việt Nam ở Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng và Đống Đa nên lần này chúng muốn biến phục thù bằng cách nuốt trọn Việt Nam biến xứ ta thành một Tây Tạng thứ hai ở phía Nam.


Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết đặt câu hỏi vậy bây giờ chúng ta phải làm gì ?


Ông đề nghị hai mặt có tính cách quyết định:


Thứ nhất , tiếp tục vận động và phối hợp với những nhà dân chủ trong nước, chuyển tải tin tức cập nhật ngõ hầu cùng nhau đẩy mạnh tiến trình dân chủ cho Việt Nam. Đây là ưu tiên hàng đầu.


Thứ hai kêu gọi sự yểm trợ của thế giới tự do qua chiến lược cụ thể Trung Cộng nhằm tiến chiến Việt nam dưới hình thức "thực dân" mới nghĩa là không động binh để chiếm đóng như ngày xưa nữa.Tiếp theo, ông Hoa Thế Nhân, một nhà đấu tranh trong cộng đồng từ nhiều năm qua và cũng là cựu sinh viên Quốc Gia Hành Chánh đã lên chứng minh bằng những sử liệu cùng với những bằng chứng mới thu thập được chứng minh rằng Hoàng Sa và Trường Sa là những hải đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam một cách không thể chối cãi được trước quốc tế. Cuộc hội thảo bắt đầu bằng sự khẳng định của cựu Đại Tá Phan Văn Huấn, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, một trong những đơn vị lẫy lừng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho biết ông chỉ là một người lính và đã từng truy lùng địch quân ở những địa danh Dăk Nong và Lâm Đồng. Ông đã bầy tỏ sự lo lắng về việc nước mất vào tay Trung Cộng nhưng hôm nay nhìm thấy sự hiện diện đông đảo đồng hương cùng với những khuôn mặt ưu tư, ông tin rằng nước ta sẽ không thể nào mất được.


Lần lượt các nhân sĩ, đại diện hội đoàn đã lên bầy tỏ sự quyết tâm đấu tranh của mình để bảo vệ quê hương.


Sau cuộc hội luận, một Tuyên Cáo Chung của Đại Việt Quốc Dân Đảng và các chính đảng, hội đoàn đoàn thể về hiểm họa trong việc Cộng Sản Việt Nam cho Trung Cộng khai thác mỏ bauxite ở Cao Nguyên với nhận định sự vẹn toàn lãnh thổ từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau và các công hàm Cộng Sản đã ký về Hoàng Sa và Trường Sa không có hiệu quả pháp lý. Lên án sự khiếp nhược của Cộng Sản Hà Nội trước âm mưu xâm lược của Trung Cộng.


Tuyên cáo 5 điểm lên án hành đông bá quyền của Trung Cộng và sự khiếp nhược của Hà Nội trước kẻ thù phương Bắc.

Đòi chấm dứt việc khai thác bauxite ở Tây Nguyện.


Kêu gọi đồng bào trong nước và ngoài nước cùng đồng loạt đứng lên đấu tranh để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Tố cáo trước quốc tế về âm mưu xâm lăng Việt Nam của Trung Cộng.


Ảnh: (từ trái) Kỷ sư Trương Việt Hoàng, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết và ông Hoa Thế Nhân trong thuyết trình đoàn về bauxite ở Tây Nguyên.


Ảnh: Cử tọa tham dự hội thảo.


Việt Báo: Tường Trình Hội Luận 12/4/2009

Đại Việt Qd Đảng Hội Luận: Khai Mỏ Bauxite, Tây Nguyên   Việt Báo Thứ Tư, 4/15/2009, 12:00:00 AM

Đại Việt QD Đảng Hội Luận: Khai Mỏ Bauxite, Tây Nguyên


Westminnster (Cổ Ngưu)-- Trưa Chủ Nhật ngày 12 tháng 4 năm 2009. Tại hội trường Thành Phố Westminster, khoảng 300 nhân sĩ, trí thức, đại diện các hội đoàn, đoàn thể, cộng đồng và đồng hương tham dự buổi hội luận về hậu qủa của việc khai thác  bauxite và âm mưu chiếm đóng cao nguyên, Trường Sa, Hoàng Sa của Trung Cộng.
Đặc biệt có Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đến từ Washington DC, Đại Tá Phan Văn Huấn. Và nhiều  vị  trong các hội nghiên cứu khoa học. Phần nghi thức khai mạc do Oâng Vũ Hải phụ trách cùng anh chị em trong biệt đoàn văn nghệ thực hiện. Điều hợp chương trình buổi hội luận do Oâng Hoa Thế Nhân. Mở đầu Kỹ Sư Trương Sỹ Hoàng, thay mặt ban tổ chức lên chào mừng và ngỏ lời cảm ơn đến các tổ chức bảo trợ, qúy vị nhân sĩ trí thức cùng đồng hương đến tham dự buổi hội luận.
Oâng cũng nhấn mạnh trước tình hình sôi động hiện nay tại quê nhà, sự hiện diện đông đủ của qúy vị đã nói lên những quan tâm đặc biệt cho công cuộc đấu tranh chung của chúng ta hiện nay.
Tiếp theo Oâng Hoa Thế Nhân lên giới thiệu diễn giả chính trong buổi hội luận đó là Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, tốt nghiệp Tiến sĩ ngành hóa học, hiện tại Oâng là Đệ Nhất Phó Chủ Tịch Đại Việt Quốc Dân Đảng, lên trình bày về hậu qủa việc khai thác bauxite và âm mưu chiếm đóng cao nguyên của Trung Cộng.
Mở đầu Oâng cho biết với  sắc lịnh số 167 ký ngày 1-11-2007 Thủ Tướng Cộng Sản Nguyễn Tấn Dũng đã cho khai thác  quặng bauxite tại công trường Bảo Lâm (Bảo Lộc) và công trường Nhân Cơ (Daknông) nhưng mãi đến 2009 mới công bố. Oâng cũng cho biết mặc dù với nhiếu ý kiến khuyến cáo từ các nhà khoa học, chuyên  viên trong cũng như ngoài nước, rút kinh nghiệm qua những quốc gia về việc khai thác bauxite và những nhà quân sự, quốc phòng, báo động về sự an nguy của quốc gia . . .
Thế nhưng nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội vẫn làm ngơ, bất chấp dư luận và hậu qủa vô cùng tai hại. Trước những tình hình hiện nay Oâng thừa ủy nhiệm của Đại Việt Quốc Dân Đảng xin chia xẻ cùng qúy vị cũng như đồng hương về những sự kiện đang xảy ra trên đất nước chúng ta. Với cái nhìn của một nhà chuyên môn, Oâng lần lược phân tách từng điểm một : Về ô nhiểm môi trường trong đó: Ô nhiểm không khí, ô nhiểm nguồn nước, ảnh hưởng đến đời sống con người nhất là những người dân sống chung quanh vùng khai thác. . . Khi người Trung Cộng đến làm đảo lộn đời sống dân tộc thiểu số, ảnh hưởng đến năng lượng và nhất là nguồn nứơc.
Oâng cũng đã trình bày chiến lược xâm chiếm Việt Nam của Trung Cộng qua những công trình xây dựng xa lộ Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn, đường số 9 nới rộng thành xa lộ. . .Oâng cũng cho biết một công trình quan trọng đó là trục vớt đá ngầm, đào sâu lòng sông Cửu Long để làm trục giao thông nối liền Thái Lan, Lào Việt Nam với Vân Nam là một tỉnh sản xưất hóa chất hàng đầu của Trung Cộng hiện nay. . .Thiết lập xa lộ nối liến Nam Ninh với Hà Nội . Miễn hộ chiếu cho những người của Trung Cộng được tự do vào Việt Nam từ Bắc chí Nam. . . .Qua những phân tách vô cùng tai hại và ảnh hưởng đến sự toàn vẹn của tổ quốc. Oâng cũng mong tất cả đồng bào chúng ta trong cũng như ngoài nước nên tiềp tục vận động và phối hợp với những nhà đấu tranh dân chủ trong nước chuyển tải tin tức cập nhật ngỏ hầu cùng nhau đẩy mạnh tiến trình dân chủ cho Việt Nam. Kêu gọi sự yểm trợ của thế giới tự do để báo động về những âm mưu xâm lược Việt Nam dưới hình thức " Thực dân mới". . . Oâng cũng kêu gọi sự vận động thế giới , nhất là Hoa kỳ và Tây Aâu tẩy chay hàng hóa nhập cảng từ Trung Quốc vì không đáp ứng được tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm hoặc có chứa hóa chất độc hại. . .
Oâng nói đã đến lúc Cộng Sản Việt Nam phải cáo chung vì những việc làm sai lầm trong qúa khứ và gần đây nhất là việc chấp nhận đồng lỏa với Trung Cộng để hàng ngàn quân Trung Cộng dưới dạng công nhân xâm nhập và khai thác nguồn tài nguyên quốc gia. Hiện tại cho thấy Trung Cộng cố tình biến Việt Nam thành một Tây Tạng thứ hai với sự đồng thuận của Cộng sản Việt Nam. . . . Qua bài thuyết trình dài nhưng khá chi tiết mọi người tham dự đếu lắng nghe, như vậy để cho thấy tinh thần dân tộc khi cần chúng ta phải đoàn kết keo sơn thành một khối để chống họa xâm lăng phương bắc. Tiếp theo Oâng Hoa Thế Nhân cũng lên cho biết về một số sử liệu cũng như bằng chứng mới thu thập được để chứng minh Hoàng Sa và trường Sa là của Việt Nam. Sau đó cựu Đại Tá Phạm Văn Huấn Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn Biệt Cách Dù Oâng cho biết là một người lính Oâng đả hiểu rỏ những địa danh trong vùng khai thác bauxite. Oâng ưu tư về họa xâm lăng của Trung Quốc trong việc tiến chiếm Cao Nguyên. Nhưng cuối cùng Oâng nói Oâng thấy không khí ngày hôm nay Oâng tin rằng nuớc chúng ta sẽ không bao giờ bị rơi vào tay giặc được. Oâng Trần trọng An Sơn, Oâng Châu Văn Để, Bác Sĩ  Nguyễn Xuân Vinh, đã lên phát biểu với những ưu tư về họa xâm lăng của Trung Cộng cũng như hậu quả tai hại về đời sống con người tất cả đều đồng ý với tài liệu thuyết trình của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết. Trong khi đó Kỹ Sư Nguyễn Minh Quang, Chủ Tịch Hội Khoa Học Kỹ Thuật Việt Nam  lên phát biểu về quan điểm của một người nghiên cứu trong đó có một số vấn đề đi ngược lại với  bài thuyết trình của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết nên đã có nhiều đồng hương yêu cầu Oâng ngưng phát biểu, thấy như vậy chúng tôi có đến tiếp xúc với Oâng, trong lúc đó có nhà báo Đoàn Trọng cũng đang thắc mắc về đề tài thuyết trình của Oâng nên đã cùng chúng tôi đặc nhiều câu hỏi tại sao anh đi ngược lại với tinh thần đấu tranh chung hiện nay thì được Oâng cho biết theo nghiên cứu của Oâng thì cho đến bây giờ cũng chưa có tài liệu nào chính thức để trả lời về tai hại của việc khai thác bauxite cả do đó những điều tôi nói là tôi có tham khảo tài liệu. Tôi hỏi Oâng tham khảo tài liệu nào thì được Oâng chỉ những trích đoạn tài liệu trong các báo phát hành trong nước. . . Trong khi đó nhà báo Đoàn Trọng cũng đã hỏi  Oâng về việc khai thác bauxite có lợi hay không thì Oâng vẫn trả lời có lợi. . . Cuối cùng tôi nói với  Oâng là không biết có phải Oâng đi tuyên truyền cho cộng sản hay không? Tôi cũng biết Oâng trước đây Oâng là người chống cộng triệt để, nên những gì tôi viết ra đây chỉ có Oâng mới  hiểu được chứ đồng hương thì hoàn toàn không đồng ý về những nhận định của Oâng trong lời phát biểu nếu không nói là đi ngược lại đường lối đấu tranh chung hiện nay.  Sau cùng nhà báo Lý Kiến Trúc cũng lến trình bày qua một số vấn đề về hậu qủa việc khai thác bauxite và việc Trường Sa Hoàng Sa. Oâng Trúc cũng nhắc lại câu: "Ai chiếm được Hoàng Sa, Trường Sa là làm chủ biển đông, ai chiếm được Cao Nguyên Trung Phần sẽ làm chủ Việt Nam." Oâng cũng đã nói qua về môi trường thiên nhiên, về văn hóa Làng, về kinh tế, địa lý nhân văn, địa lý chính trị, an ninh quốc phòng, trong thời gian rất ngán nhưng Oâng cũng đã tóm lược một số vấn đề mấu chốt quan trọng trong âm mưu cũa Trung Cộng xâm lăng. Sau đó ban tổ chức cho phân phối bản Tuyên cáo 5 điểm lên án hành động bá quyền của Trung Cộng và sự cuối đầu làm tay sai của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam  đối với  quân xâm lược Trung Cộng. Đòi nhà cầm quyền cộng sản phải chấm dứt việc khai thác bauxite Cao Nguyên. Tuyên cáo kêu gọi đồng bào trong cũng như ngoài nước hãy đoàn kết, một lòng đứng lên tranh đấu để bảo vệ chủ quyền cững như toàn vẹn lãnh thổ mà tổ tiên ta đã dày công dựng nước, giữ nước. Buổi hội luận trong bầu không khí quyết tâm cùng nhau góp sức đẩy mạnh cộng cuộc đấu tranh chung hiện nay.

Dân Tộc Sinh Tồn Trong Chiều Hướng Toàn Cầu Hóa

Dân tộc Sinh Tồn Trong Chiều Hướng Toàn Cầu Hóa


Tiến trình tòan cầu hóa hiện đang diễn ra trên thế giới với vận tốc ngày càng nhanh.


Từ hậu bán thế kỷ 20, khái niệm về toàn cầu hóa đã nảy sinh với tốc độ tăng dần. Qua đến đầu thập niên 90, từ ngữ globalization được phổ biến rộng rãi trên thế giới nhờ phương tiện thông tin trên mạng lưới trở thành phổ thông. Bắt đầu từ lãnh vực truyền tin, thông tin, khái niệm toàn cầu hóa dần dần xâm nhập vào các lãnh vực khác như kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ khiến cho các biên giới địa dư quốc gia cũng từ từ hòa nhập vào nhau để hướng về một thế giới có nhiều điểm tương đồng nhiều hơn.


Bài viết nầy nhằm đưa ra vài nhận định về việc ứng dụng lý thuyết dân tộc sinh tồn vào thời kỳ thế giới đang mở rộng và tiếp cận một cách nhanh chóng thông qua mạng lưới xa lộ thông tin.


Với tư cách một đảng viên Đại Việt Quốc Dân Đảng, chúng tôi rất tự hào đứng dưới danh nghĩa ĐVQDĐ, một đảng chính trị đã do một thiên tài của đất nước là cố Đảng trưởng Trương Tử Anh, mới vừa 25 tuổi đã có khả năng xây dựng nên một chủ thuyết mệnh danh là "Dân Tộc Sinh Tồn" (DTST) để làm khung, làm nền tảng lý luận điều hướng hoạt động đấu tranh vững mạnh hướng về mục tiêu chiến lược lâu dài, không chao đảo trước mọi tình huống, và đã tạo điều kiện cho ĐVQDĐ trường tồn cho đến ngày nay.


Trên trận tuyến đấu tranh chống CS VN hiện tại, ĐVQD Đ có thể giương cao ngọn cờ DTST đặt trên căn bản đầy tình tự dân tộc và nhân bản làm đối lực đương đầu với chủ nghĩa CS vô thần, mị dân với ảo tưởng dựng nên một nước VN xã hội chủ nghĩa mà ngay cả những người đề xướng ra cũng không xác định được xã hội chủ nghĩa cụ thể là gì.


Mỗi người trong chúng ta, dù có những suy nghĩ nào dị biệt đi nữa, cũng khó có thể phủ nhận được tính cách mạng đầy nhân bản của chủ thuyết DTST. Chính chủ thuyết nầy theo quan điểm của người viết, cho đến ngày hôm nay (2006) vẫn còn là một đối trọng vững chắc đối với ý thức hệ của chủ thuyết Cộng sản, để từ đó áp dụng vào thực tế và điều kiện Việt Nam hầu thúc đẩy nhanh hơn tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.


Đó là một xác quyết. Chúng tôi muốn lập lại một lần nữa, trước tiến trình tòan cầu hóa hiện nay cùng với vai trò của từng quốc gia trên thế giới, dù muốn dù không, Việt Nam cần phải hôị nhập vào cộng đồng chung, trong đó chủ thuyết DTST có khả năng không phải để chuyển hóa mà là xóa tan chủ nghĩa CS hiện đang "bách chiến bách thắng" trên tòan cõi Việt Nam.


Chủ nghĩa DTST trong bối cảnh 1938


Trong tiến trình thành lập Đảng Đại Việt, Đảng trưởng Trương Tử Anh đã hoạch định ra chủ thuyết DTST với mục tiêu duy nhất là phục vụ con người tòan diện. Đây chính là cái khung cho việc tuyên bố thành lập đảng vào năm 1939.

Chúng ta hãy trở lại bối cảnh thời bấy giờ. Trong giai đọan nầy, trên thế giới, Hoa kỳ mới vừa phục hồi lại kinh tế sau cơn khủng hõang thế giới vào những năm 30. Ở thời điểm trên, Âu châu vẫn là một trung tâm quyền lực về chính trị, quân sự, và kinh tế. Tại Đức, Đức quốc xả do Hitler cầm đầu, với chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang chuẩn bị và huy động tiềm năng quân sự của mình để bắt đầu một cuộc chiến xâm lược. Đó là chiến tranh thế giới lần thứ hai.


Ở Việt Nam, tuy vẫn còn là một quốc gia theo chế độ quân chủ, nhưng nhà vua chỉ ngồi làm vì và thực dân Pháp cố tình duy trì chế độ phong kiến để kềm hãm ý chí đấu tranh và ngăn chận bước tiến của dân tộc Việt.


Tuy nhiên, qua những phong trào của cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,…một số nho sĩ Việt Nam đã bắt đầu bước ra khỏi những tầng tháp ngà và manh nha một vài nhận định mới về xã hội qua những tiếp cận và trình bày của hai nhà cách mạng trên. Nước Việt Nam từ đó không còn là một ốc đão nhõ nữa. Từ đó, người thanh niên Trương Tử Anh đã khai sáng ra chủ thuyết DTST. Có thể nói đây là một bước ngoặc lớn cho Việt Nam. Vào một thời điểm xã hội Việt Nam đang còn khép kín trong suy nghĩ, đóng chặt cửa trước thế giới bên ngoài, chịu nô lệ trong sự kềm hãm phát triển trên mọi khía cạnh của con người, nhất là phát triển tư tưởng độc lập dân tộc Việt. Chủ thuyết DTST đã khai mở tất cả. Đảng trưởng Trương Tử Anh đã vừa mở cánh cửa dân chủ cho Việt Nam. Đó là những nguyên lý sinh tồn qua 4 bước về bản năng sinh tồn của từng cá nhân như: bản năng vị kỹ, bản năng tình dục, bản năng xã hội, và bản năng suy luận.


Từ 4 bản năng sinh tồn trên, con người, đặc biệt là con người Việt Nam có thể thẩm thấu và thăng hoa theo chiều hướng hướng thiện. Bản năng sinh tồn không còn thể hiện cho từng cá nhân mà là cho sự sống còn của tòan dân. Bản năng vị kỹ dù lấy cá nhân làm trung tâm để có một tinh thần độc lập và cũng từ đó khai triển ra thành một tinh thần độc lập quốc dân. Do đó tính vị kỹ không nằm trong nghĩa hẹp của ngôn từ mà được ứng dụng vào cộng đồng dân tộc và biến con người trở nên cao thượng hơn có tinh thần biết hy sinh vì đại nghĩa.


Trở lại tình hình đất nước thời bấy giờ, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nước Việt Nam được chia ra làm 3 kỳ có 3 quy chế hoàn toàn khác nhau: Nam kỳ là đất thuộc địa, Trung kỳ có vua là đất bảo hộ, còn Bắc kỳ có kinh lược sứ, nhưng trên thực tế bị đặt dưới quyền thống trị của Toàn quyền Pháp. Song song với sự phân chia hành chính kể trên, từ đất Bắc, ĐV QDĐ đã phân công một số đồng chí cốt cán xây dựng cơ sở đảng thành 3 Xứ bộ Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ hoạt động trong vòng bí mật để có thể tồn tại. Chính vì nhu cầu bí mật bắt buộc phải xây dựng cơ cấu điều hành đa dạng, đáp ứng với điều kiện đặc thù của từng địa phương, cộng thêm những khiếm khuyết về thông tin không được xuyên suốt; theo thời gian, vô hình chung đã tạo nên một nề nếp hoạt động biệt lập theo từng Xứ bộ, nhất là sau khi Đảng trưởng TTA mất tích không để lại dấu vết trong biến cố năm 1946 tại Hà Nội. Những đồng chí được bầu lên để điều hành Đảng sau nầy, do hoàn cảnh khách quan và chủ quan không thề nào duy trì đầu mối thống nhất lãnh đạo Đảng được.


Từ đó, hình thành mô hình "hệ phái" với những danh xưng như ĐV Duy Tân, ĐV Cách Mạng, Tân ĐV v.v... Và dư luận quần chúng bên ngoài cho rằng đó là hình thức phân hóa của Đảng căn cứ vào những dị đồng của một số thành phần lãnh đạo.

Tuy nhiên, nếu phân tích thực trạng kể trên dưới tinh thần khoa học và phát triển, hiện tượng phân hóa chỉ là về mặt hình thức, còn về thực chất thì dù dưới danh xưng nào đi nữa, một ĐV QDĐ vẫn ngạo nghễ tồn tại dưới ánh mặt trời vì các "hệ phái" vẫn không từ bõ danh xưng Đại Việt và nhất là hệ phái nào cũng xác định Lãnh tụ TTA là vị sáng lập Đảng, và tất cả đều sinh hoạt đấu tranh gắn bó với nhau và cùng đặt trên cơ sở chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn.


Tiến trình phát triển của một đoàn thể chính trị, theo quy luật gồm hai mặt: một mặt chiều thuận tích cực hướng về xây dựng tốt lành, một mặt chiều nghịch tiêu cực kéo đoàn thể đi xuống. Hiện trạng nầy hầu như đều xảy ra trong bất cứ một đảng chính trị nào trên đất Việt. Do đó, trong điều kiện kể trên, điều mà dư luận bên ngoài gọi là "phân hóa", thực sự chỉ thể hiện một cơn bịnh trong việc quản trị và điều hàng ĐaÛng. Cơn bịnh đó có thể được chữa lành một khi có điều kiện khách quan và chủ quan đồng hổ trợ cho nhau ngõ hầu tạo cơ hội trao đổi và dung hòa quan điểm trên căn bản bất di bất dịch của chủ thuyết DTST.


Luật Dân Tộc Sinh Tồn biến cải


Sau khi hiệp định Geneve chia đôi lãnh thổ, VNCH được thành lập, hình thành một thể chế chính trị của một quốc gia toàn vẹn chủ quyền và độc lập. Từ đó, các đoàn thể chính trị ở miền Nam có điều kiện tham gia việc nước và một bối cảnh chính trị mới xuất hiện. Và cũng từ đó một số đoàn thể chính trị mới thực sự công khai hoạt động. Đối với ĐV, mô hình thể chế chính trị Đức, Nhật là mô hình lý tưởng của con đường đấu tranh khép kín cố hữu của ĐVQDĐ cho thấy không còn thích hợp nữa trong tình hình chính trị quốc tế mới, vốn chủ trương dân chủ và "mở" để cùng nhau phát triển trước tiến trình toàn cầu hóa. Cố GS Nguyễn Ngọc Huy, một trong những sáng lập viên Tân ĐV từ căn bản Xứù bộ Nam kỳ đã góp công khai triển luận thuyết chủ nghĩa DTST dưới sự soi sáng của thuyết tiến hóa Darwin, đưa lên lý luận xu hướng biến cải vào năm 1964. Từ đó, thuyết dân tộc sinh tồn biến cải ra đời.


Điều nầy không có nghĩa là ĐV đã tách rời, mà đây chỉ là một giai đọan mở theo tầm nhìn mới, thích hợp với một số đảng viên, cũng như chưa đạt được tính thuyết phục đối với nhiều đảng viên khác. Tuy trong nội tình có khác biệt về tư tưởng và hành động cũng như qua cung cách ứng xử đối với bên ngoài, người đảng viên ĐV trong gia đình ĐV cùng kết hợp hành động khi có biến cố xảy ra cho miền Nam. Đây là một điểm son của những hệ phái ĐV, thoát thai từ một gia đình chung, gia đình ĐVQDĐ.


Trở lại chủ thuyết DTST biến cải, GS Huy đã nhận định qua luật tiến hóa của Darwin để thấy rằng sức mạnh của con người chưa phải là một yếu tố then chốt để đưa đến thắng lợi sau cùng. Cũng cần phải có nhiều yếu tố của môi trường chung quanh mới quyết định sự thắng lợi tòan vẹn. Do đó GS Huy đưa ra xu hướng biến cải tức khả năng thích nghi tùy theo hoàn cảnh, lúc tiến, lúc lùi để ứng phó với những thuận lợi cùng bất lợi. Để rồi, sau cùng, tranh thủ phần thắng lợi trước mọi tình huống dù là bất lợi cho đòan thể của mình. Khái niệm sinh tồn trong giai đoạn nầy được hiển theo nghĩa của sự tiến hóa va øtiến bộ của loài người.


Trên đây là một chuyển hướng lớn về luận thuyết của ĐV. Tên tuổi của GS Huy sẽ nằm trong danh sách những người khai sáng và tiếp nối truyền thống ĐV. GS Huy còn đưa ra một số điều kiện cho sự sinh tồn trong luận thuyết biến cải cùng 2 hình thức tranh đấu dựa theo hai nguyên tắc đối nội và đối ngoại. Đó là hai hình thức tranh đấu bên ngoài và tranh đấu với chính nôị tâm của mình. Từ suy nghĩ trên, công cuộc tranh đấu của GS Huy thể hiện hình thức tranh đấu dưới dạng ôn hòa hay bạo động tuỳ theo trường hợp và diễn biến của hòan cảnh chính trị của quốc gia trong thời điểm trên.


Từ việc soi sáng những khả năng tranh đấu GS Huy đã khai triển thêm thành ba bước khác nhau hay 3 luật để rồi căn cứ theo đó mà hành xử tuỳ theo tình huống đang xảy ra. Đó là luật sức mạnh, luật biến cải và luật hợp quần và giáo dục.

Về luật sức mạnh, đứng trước thế phân cực mới trên thế giới, quả thật sức mạnh ngày hôm nay không còn căn cứ theo khả năng quân sự nữa, mà khả năng kinh tế mới là thước đo quyền lực tòan cầu. Luật biến cải cũng được GS giải thích là khả năng thích nghi theo hòan cảnh và điều kiện trong tình tarng xã hội lúc bấy giờ. Trước tình thế mới ngày hôm nay, cần phải vận dụng trí óc để thẩm định tình hình ngõ hầu biến cải mọi hợp tác quốc gia phải dựa theo quan điểm đồng thuận, và thế đôi bên cùng có lợi (win-win situation) khỏi bị lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào mà vẫn giữ được tính chất độc lập dân tộc.

Luật thứ ba về hợp quần và giáo dục. Đây là một yếu tố nhập môn rất sơ đẳng đã được giảng dạy từ những ngày đầu tiên của trẻ con miền Nam trong chương trình giáo dục tiểu học qua những câu chuyện ngụ ngôn trong sách quốc văn giáo khoa thư. Nhưng để thực hiện và áp dụng luật trên không phải dễ. Nhìn lại chính chúng ta, hiện tại bao nhiêu hệ phái của ĐV thực sự đã làm suy yếu tiềm lực lớn lao của một Đảng có quá trình tranh đấu lâu dài và một thời đã được sự ngưỡng mộ và ủng hộ của đại khối dân tộc Việt Nam.


Tiến trình tòan cầu hóa và hội nhập


Kể từ ngày thành lập đảng ĐV cho đến ngày nay, thế giới đã hoàn toàn biến đổi, đi từ một thế giới với những quốc gia khép kín đến hình thái một thế giới mở như ngày hôm nay. tiến trình toàn cầu hóa hẳn nhiên là một tiến trình phải hướng tới vì sự phát triển chung của toàn cầu. Đây là một tiến trình tự nhiên trong phát triển để cùng đưa các quốc gia đến gần hơn và bổ túc cho nhau hơn trên tư thế đôi bên cùng lưỡng lợi. Từ đây, chúng ta cùng lượt duyệt qua hai quốc gia điển hình ở châu Á là Trung Quốc và Nhật Bản để từ đó chiêm nghiệm ra con đường VN có thể đi trong những ngày sắp đến. Cũng từ đó, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm đem áp dụng vào điều kiện VN và việc ứng dụng chủ thuyết DTST trong hoàn cảnh hiện tại.

Từ nhiều ngàn năm trước, khi nhân loại đang còn triền miên trong giấc ngủ của thời kỳ bán khai, Trung quốc đã có một nền văn minh cực thịnh, phát minh ra nhiều kỹ thuật căn bản tuyệt vời cho phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ nhân sinh. Đó là thuốc súng, giấy, và địa bàn. Nhưng thay vì dùng thuốc súng cho những nghiên cứu ứng dụng vào lợi ích cho đời sống, người Trung Quốc đã làm ra pháo nổ, pháo thăng thiên để mua vui trong các cuộc hội hè đình đám. Đá nam châm, địa bàn... không được ứng dụng cho khoa học mà tập trung vào việc phát triển địa lý phong thủy để nhàn hạ trong thú ngao du sơn thủy. Giấy được dùng trong việc chế tạo tiền vàng bạc phục vụ cho việc tang chế, cúng tế thay vì sử dụng cho nhu cầu giáo dục. Giấc ngủ dài trên cùng với giấc mơ thiên tử đã làm cho Trung quốc thành một quốc gia đông dân nhất thế giới (1,3 tỷ năm 2003) và có lợi tức đầu người khoảng $ 1.000 năm 2005.


Bước vào thiên niên kỹ mới, người Trung Quốc dường như vẫn chưa hình dung và đánh giá đúng đắn nhu cầu dân chủ-toàn cầu hóa trong mọi lãnh vực là một tất yếu không thể cưỡng lại được. Họ vẫn dùng sức mạnh dựa trên dân số mà làm áp lực khắp nơi, phát triển kinh tế-khoa học kỹ thuật bừa bãi bất kể đến an sinh của chính người dân trong nước và các khuyến cáo của thế giới như việc xây dựng đập nước thiếu điều nghiên đúng đắn, phế thải kỹ nghệ độc hại được đưa thẳng vào thượng nguồn của các sông, ngay cả sông Mekong làm di hại đến hạ lưu trong đó có Việt Nam. Và việc làm sai trái đó vẫn còn đang tiếp diễn. Trong tiến trình bước vào thiên niên kỷ mới, Trung Quốc chỉ còn có một sức mạnh duy nhất, không thay đổi từ ngàn năm là tánh duy ngã độc tôn và niềm tự hào đông dân nhất thế giới!


Ngược lại, Nhật bản vẫn tồn tại và tiếp tục tăng trưởng nguồn phúc lợi cho người dân. Sức mạnh kinh tế của Nhật chỉ đứng sau Hoa kỳ, vượt xa các nước Tây phương. Và người Nhật cũng đã từng tự nhận là con của Thiên Hoàng- một chủng loại siêu nhân trên thế giới. Nhưng khi đứng trước nhu cầu toàn cầu hóa trong việc bảo vệ môi trường và phát triển, người Nhật hay ít ra lãnh đạo Nhật đã quên đi tinh thần yêu nước cực đoan và lần lần hội nhập vào cộng đồng thế giới để cùng giải quyết các vấn nạn chung cho toàn cầu. Lãnh đạo Nhật đã can đảm chính thức quyết định tiếng Anh phải là thứ tiếng giao dịch cho toàn thể dân chúng sau tiếng Nhật. Bộ Giáo dục Nhật vừa mới đây đã xác nhận dùng tiếng Anh nhằm chuyển biến đất nước mang tính "quy chuẩn văn hóa toàn cầu" cho thế kỷ thứ 21. Yêu cầu dùng tiếng Anh như là tiếng nói chính thức trong mọi giao dịch ở các công sở và nơi công cộng. Làm như thế, lãnh đạo Nhật đã chứng minh tầm nhìn xa và đặt quyền lợi tối thượng của quốc gia dân tộc hơn là tự ru ngũ trong niềm tự hào dân tộc cực đoan. Cũng cần nến biết, vào thời điểm 1970, lợi tức đầu người của miền Nam VN là $150/năm, trong lúc đó Nhật Bản có lợi tức $180/năm. Ngày nay, VN đạt được $ 500/năm, và Nhật Bản bỏ xa với trên $28.000/năm. Với mức phát triển sai biệt trên cho thấy rõ ràng rằng trong khoãng thời gian gần 40 năm, mức phát triển để sinh tồn của dân tộc Việt đã không đi đúng hướng. Do đó hiện tượng chậm tiến vẫn còn triền miên dự phần thường trực vào tâm khảm của mỗi người Việt chúng ta.


Trở về đất nước thân yêu của tất cả chúng ta, Việt Nam hiện tại là một dân tộc non trẻ, thông minh, chăm chỉ, hiếu học, cần cù , và có tinh thần cầu tiến. Trên 90% dân số đều biết đọc biết viết. Con số nầy quá cao so với các nước đang phát triển và có điều kiện xã hội tương tự như của chúng ta. Tuy nhiên theo phúc trình của Bộ ngoại giao Hoa kỳ tháng 2/2005, tổng sản lượng trung bình tính theo đầu người của VN là $450/năm, vẫn còn quá thấp ngay cả so sánh với một số quốc gia Phi châu, Lào, và Campuchia! Trên 55 triệu dân (65% dân số) sống trong vùng nông nghiệp và chỉ đạt được 22% tổng sản lượng toàn quốc. Cũng theo phúc trình trên, có 30% dân số sống dưới mức bần cùng. Nếu tính theo định nghĩa của Liên hiệp quốc về mức nghèo tuyệt đối (absolute poverty) tính theo đầu người là US$1/ngày, tỷ lệ trên sẽ còn cao hơn nhiều. (Hoa kỳ chỉ có 1,5 triệu nông dân để cung ứng nhu cầu lương thực cho 300 triệu người Mỹ và viện trợ lương thực đi khắp thế giới.)


Tai sao có sự nghịch lý kễ trên? Dĩ nhiên là phải có cái gì bất ổn cho đất nước. Thiết nghĩ, sự bất ổn cho đất nước cần phải được soi rọi kỹ lưỡng. Bất ổn đến từ đâu? Tại sao dân tộc Việt, với niềm tự hào về tiền nhân, hãnh diện vì có một nền văn hóa riêng rẽ và độc đáo... lại phải đi bước thụt lùi so với các quốc gia trên thế giới. Thậm chí đến những quốc gia trong vùng Đông Nam Á, VN đã từng đứng hàng đầu, giờ đây, với chỉ dấu chính để so sánh mức phát triển qua lợi tức đầu người, VN hãy còn hàng vài chục năm nữa mới có thể hy vọng đứng ngang hàng với Thái Lan hiện tại. Phải chăng dân tộc chúng ta không có sức sinh tồn mạnh đủ để đưa đất nước đi lên.


Hiện tại, trong nhiều lãnh vực kinh tế-kỹ thuật-khoa học-môi sinh, thế giới đang biến thành một quốc gia lớn, một trật tự mới đang hình thành. Trong bối cảnh đó, càng ngày càng thấy rõ ràng mọi người đều có trách nhiệm. Những gì xảy ra tại Tây Tạng, Vân Nam đều trực tiếp ảnh hưởng đến đồng bằng sông Cửu Long. Rốt ráo hơn nữa, mọi người Việt đều có trách nhiệm về tình trạng tụt hậu của Việt Nam. Và dĩ nhiên ĐV QDĐ cũng phải có trách nhiệm trước dân tộc. Trách nhiệm đó sẽ được thể hiện như thế nào? Đó là câu hỏi của tất cả đảng viên ĐV cùng động não để có câu trả lời. Việc ứng dụng chủ thuyết DTST ngay từ bây giờ sẽ là một đề tài để mỗi đảng viên cùng suy nghĩ. Và người viết với tư cách một đảng viên trình bày một số suy nghĩ để chia xẻ cùng toàn thể gia đình Đại Việt.


Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn trước tiến trình tòan cầu hóa


Qua nhận định sơ lược về lịch sử của ba quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, qua phân tích căn bản về thuyết DTST và DTST biến cải, và nhất là qua quá khứ gần đây và những kinh nghiệm "đầy dấu ấn" không đẹp của tòan thể ĐV, đứng trước tình thế mới ở Việt Nam, và những thay đổi liên tục trên thế giới về sự phân cực quyền lực, chúng ta, những đảng viên ĐV cần phải làm gi? Hành động trong hiện tại và tương lai của những hệ phái ĐV sẽ được dân tộc đánh giá trong những ngày sắp tới ra sao? Câu trả lời sẽ là kết quả của những việc làm của mỗi thành viên trong Đảng.


Nên nhớ, tinh thần của đảng cách mạng ngày hôm nay không còn là một tinh thần "kín" nữa, mà phải là một đảng "mở"û. Sự gìn giữ bí mật trong nội bộ, chỉ còn là những kế hoạch hành động trước khi thi hành để cho đối phương không phòng ngừa trước mà thôi. Đảng phải mở, để cho người dân thấy hướng đi tích cực và rõ ràng của đảng để có thể tạo ra được sự đồng thuận nhiều hơn.


Người Đảng viên ngày nay đứng trước tiến trình tòan cầu hóa phải là một nhân sự đầy năng động, có khả năng phục vụ quần chúng trong một xã hội mở, chứ không còn là một đảng viên bí mật, sống trong bóng tối và chỉ lộ diện ra ngoài xã hội trong những trường hợp bất khả kháng mà thôi.


Người Đảng viên ngày nay cần phải chuyển hóa bản năng vị kỹ thành ra một tinh thần hòa đồng cho cái chung của dân tộc, không còn tính vị kỹ trong ý nghĩa thấp nhất là phục vụ cho chính "cái ta" của mình.


Người Đảng viên trong suy nghĩ mới ngày nay cần phải chối bõ mọi rào cản ngăn cách đảng viên/đảng viên và đảng viên/quần chúng để có được một sự hổ tương sinh tồn, tạo ra thế đứng vững mạnh để làm đối trọng trong mọi giao tiếp với các quốc gia khác. Từ đó sẽ tiến tới tiến trình liên đới về cung và cầu ngõ hầu đạt được sự đồng thuận chung. Đó là thế đôi bên cùng lưỡng lợi.


Người Đảng viên ĐV ngày hôm nay, ngoài tinh thần đòan kết, củng cố xây dựng đảng, phát triển sự đồng thuận nôị bộ để lấy lạị uy tín đối với quốc nội và hải ngoại.


Làm được những điều trên đây, Đại Việt Dân Tộc Sinh Tồn mới hy vọng đẩy mạnh được tinh thần đấu tranh dành lại độc lập dân tộc cũng như thuyết phục được sự hậu thuẫn của quốc tế trong công cuộc đấu tranh chung này.


Thay lời kết


Thế giới ngày nay là một thế giới hòan tòan mở, mở để đối thoại, mở để đi đến sự đồng thuận trong thếù tương quan bổ túc lẫn nhau. Đảng ĐV trước sau thiết nghĩ cũng phải đi theo tiến trình nầy. Đảng phải công khai lộ diện trước quần chúng. Thời đại của một đảng cách mạng kín, sống và làm việc trong bóng tối, đảng viên phải ẩn danh hay chỉ dùng bí danh để giữ bí mật về đảng tịch… đã qua rồi. Đảng Đại Việt sẽ không còn là một đảng cán bộ mà phải là một đảng cán bộ và quần chúng, công khai tranh đấu trên chính trường, nghị trường. Như vậy mới mong được toàn dân tin tưởng và hỗ trợ. Đảng sẽ không còn giữ hình thức lãnh tụ trong mô hình hình tháp trong đó chủ tịch đảng có tòan quyền hành động và nắm quyền lực tuyệt đối.


Mà, quan niệm của Đảng ngày hôm nay phải là một tập thể lãnh đạo trong đó ban lãnh đạo cùng nhau trao đổi trong tinh thần đồng chí và tương kính để "quản lý" và "điều hành" đảng một khi đã có sự đồng thuận chung.


Thực hiện được những điều trên, chúng ta, người Đảng viên Đại Việt ngày hôm nay mới có khả năng phục hoạt lại thế mạnh của Đảng trong thời kỳ chống Pháp giành lại độc lập, rà soát lại những khuyết điểm trong thời gian nắm giữ quyền lực thời Đệ Nhị Cộng hòa, và trong tương lai, đẩy mạnh công cuộc tháo gỡ những bế tắc của dân tộc do sự cai trị sai lầm của những người cộng sản chuyên chính Việt Nam.


Về mặt hải ngoại, kể từ ngày hôm nay, đã chấm dứt thời điểm ra tuyên cáo, tuyên ngôn, nhận định tình hình v.v. ..rồi chờ đợi. Làm như thế chỉ đánh mất thêm thời gian và chúng ta đã làm như thế trên 30 năm nay rồi. Làm như thế chúng ta đã gián tiếp làm thui chột niềm tin của cộng đồng dân tộc ở hải ngoại cũng như ở trong nước.


Ngày hôm nay, người Đảng viên ĐV phải có đủ đỡm lược để phát huy tiếng nói của ĐV DTST. Phát huy không phải là nói suông là phải biết nói, biết viết. Nói lên, viết lên chính nghĩa của chúng ta. Nói và viết lên những sai trái của chế độ và việc làm hiện tại trong công cuộc quản lý đất nước Việt Nam, để tạo điều kiện cho công đồng dân tộc hiểu rõ hơn bộ mặt thật của chế độ. Thêm nữa, trong giai đọan nầy, người Đảng viên ĐV DTST phải biết hy sinh, hy sinh cho đại cuộc bằng việc đóng góp vật lực, tài lực, và đóng góp chính bản thân cho nhu cầu dành lại dân chủ, tự do cho người dân Việt Nam.


Để kết luận, Đảng viên ĐV trân trọng bốn ngàn năm văn hiến của tiền nhân, ngày hôm nay không vì niềm tự hào đó mà dừng chân lại để chiêm ngưởng quá khứ, một thời vàng son cũng như tự "an ũi" với quá trình hoạt động trong thời gian đã qua. Đảng viên ĐV DTST của Việt Nam phải lên đường, bắt đầu ngay từ bây giờ, cùng nhau điều chỉnh hướng đi để có thể ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hóa trên thế giới.


Có như thế, hy vọng cơ hội phát triển quốc gia, và triển vọng tương lai cùng đời sống kinh tế và tâm linh của người dân Việt mới có thể được nâng cao lên.


Tiếng còi xuất quân đã điểm. Mời tất cả thành viên thuộc mọi hệ phái trong gia đình Đại Việt cùng nhau đoàn kết lại và tiến bước.


Trân trọng và mong lắm thay,


Mai Thanh Truyết

Hiệu đính 9/2006


Kỹ Nghệ Làm Nail

Thay Lời Tựa

Hôm nọ, tôi được mời tham dự buổi tiệc ra mắt nguyệt san NailTec ở một nhà hàng sang trọng trong vùng Little Sài Gòn. Buổi tiệc hôm ấy là đại hội quần hùng của những đại gia Việt Nam có tầm cở trên khắp nước Mỹ - những người khai phá trong ngành Nail .

Tuy vẫn biết thị trường nầy được đồng hương Việt nam khai thác mấy chục năm nay, cung cấp công ăn việc làm cho nhiều người, đa số khá thành công, nhưng những thông tin, dữ kiện được đưa ra trong buổi tiệc làm cho tôi và, chắc nhiều người có mặt hôm đó và cá nhân tôi ngỡ ngàng: người Việt chế ngự 80% của thị trường có số tiêu thụ lên đến 7 tỉ

i

dollars một năm; có khoảng 200 ngàn thợ Việt Nam đang làm việc trong khoảng 40 ngàn tiệm nail do người Việt làm chủ trên toàn nước Mỹ!

Chúng tôi, những người ngồi cùng bàn, trong đó có Tiến Sĩ Hóa Học Mai Thanh Truyết, thảo luận lang mang về những gương thành công và những trường hợp thất bại trong dịch vụ nầy; bàn về những mảnh đời, những gia đình bám trụ ở Cali lâu năm nhưng vì nhu cầu kinh tế mà phải phân tán, xuyên bang lạc lỏng trên khắp các hang cùng ngỏ hẻm của nước Mỹ mênh mông. Chúng tôi đặc biệt thảo luận về các chất hóa học trong kỹ nghệ "nail" gây ảnh hưởng lên sức khỏe của người thợ như thế nào, hay nói một cách khác, mặt trái của chiếc mề-đay.

Vốn quen thân với Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết nhiều năm nên tôi vui vui đề nghị ông viết một bài phân tích về tính độc hại của các hóa chất được sử dụng trong ngành nail và sự gây tai hại đến sức khỏe con người, để giúp cho đồng hương - trong nghề nắm vững hơn và từ đó có biện pháp phòng ngừa cẩn thận .

Là một Tiến Sĩ tốt nghiệp khoa Hoá từ một đại học Pháp, từng là Giáo Sư Khoa Trưởng Khoa Hóa Học ở Đại Học Sư Phạm Sài Gòn trước năm 1975, và với công việc cũng trong lãnh vực nghiên cứu về hoá chất ở Mỹ hơn 20 năm qua, theo tôi, ông Mai Thanh Truyết là người có đầy đủ "tiêu chuẩn" để viết về một đề tài có tính cách chuyên môn như vậy .

ii

Cứ tưởng câu chuyện nói tại buổi tiệc hôm đó chỉ là chuyện trà dư tửu hậu, chuyện "nghe qua rồi bỏ ". Nhưng, điều ngạc nhiên và bất ngờ đến độ không ngờ là, khoảng hai tháng sau Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết ghé nhà chơi và trao cho tôi một tập tài liệu khá dày, và nội dung trong đó chỉ nói về dịch vụ làm đẹp, đặc biệt là nói về nghề "nail".

Có thể nói tập tài liệu nầy, đối với tôi, là một công trình nghiên cứu nhỏ nhưng đáng kể, không những chi tiết trong phạm vi phân tích kỹ thuật, mà còn rất phong phú về nội dung: không chỉ đơn thuần chuyên tải đến cho người đọc thêm một số kiến thức và nêu ra những di hại của các chất hóa học trong các dịch vụ làm đẹp, mà còn bao quát lãnh vực phổ biến và thông dụng hơn liên quan đến hóa chất được chúng ta sử dụng trong cuộc sống hàng ngày .

Hơn 40 năm "làm bạn" với hầu hết các chất hóa học trong phòng thí nghiệm, như một đầu bếp giỏi luôn biết rỏ trong tủ lạnh của mình chứa những thực phẩm gì, Tiến Sĩ Truyết liệt kê, phân tích đặc tính của hàng trăm chất hóa học được sử dụng trong kỹ nghệ làm đẹp, tác hại của mỗi loại lên từng bộ phận trên cơ thể của con người, và đưa ra các phương pháp phòng ngừa để giảm tối thiểu những nguy hại một khi phải bắt buộc tiếp xúc với chúng.

Tôi cũng chú ý rằng trong tập tài liệu 9 chương nầy, Tiến Sĩ Truyết dành ra nhiều bài viết về cách bố trí một tiệm nail hay cắt tóc sao cho đúng với các điều

iii

kiện an toàn, đúng luật; phân tích khía cạnh pháp lý cũng như tình cảm của người trong nghề, những điều kiện để trở thành một Kỹ Thuật Viên. Thêm vào đó là cách đề phòng các chứng bệnh truyền nhiễm như, bệnh AIDS, bệnh viêm gan A, B, bệnh nấm da… do việc tiếp xúc thường xuyên với khách hàng trong môi trường làm việc cũng được trình bày rõ ràng.

Tôi nghĩ tập tài liệu này nên là một cẩm nang mang nhiều lợi ích cho các đồng hương trong kỹ nghệ làm đẹp vì nó thiết thực cho người ở trong ngành nghề cũng như các khách hang. Từ đó, tôi xin trân trọng giới thiệu đến quý vị tập sách có tên "

BẢO VỆ SỨC KHOẺ TRONG KỸ NGHỆ LÀM ĐẸP" của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết.

Orange County, ngày 25 tháng 04 năm 2006

Trân Trọng,

Trương Việt Hoàng

Tản Mạn về Nhà Máy Giấy Hậu Giang

Tãn Mạn Về Nhà Máy Giấy Hậu Giang

 

 

Theo tin báo chí trong nước , một nhà máy giấy ở Hậu Giang đã được khởi công ngày 6/8/2007 tại khu công nghiệp Phú Hữu A, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Dự án nầy với 100% nguồn vốn ngoại quốc với mức đầu tư 1,2 tỹ Mỹ kim, phỏng theo dây chuyền sản xuất của Cty Giấy Lee&Man Paper và có công suất 570 ngàn tấn giấy/năm. Diện tích đất đầu tư khoảng 200 hecta.

 

Dự án nằm trong trung tâm nông nghiệp của ĐBSCL, và diện tích rừng bao phủ (trên bản đồ không kể hàng trăm ngàn hecta rừng tràm đã biến mất do công cuộc bùng nổ nuôi tôm từ thập niên 1990) theo ước tính chỉ "hy vọng" có cơ may đáp ứng 20% công suất của nhà máy khi hoàn thành. Trong kế hoạch của dự án, việc quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu hoạt động của dự án là 120.000 hecta trồng cây làm nguyên liệu cho nhà máy.

 

Qua quy mô "vĩ đại" của dự án, cũng như dự án đã được chấp thuận từ trung ương đến địa phưong qua liên Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn và Bộ Công thương, cũng như được thông qua quốc hội và các Uỷ ban tỉnh, huyện tỉnh Hậu Giang. Đặc biệt Dư án đã được sự yểm trợ của Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội, sau khi đi tham quan nhà máy giấy Lee&Man Paper đặt trụ sở tại Hong Kong.

 

Đôi hàng "lý lịch trích ngang" của GS TS Nguyễn Ngọc Trân

 

Ông vốn là một sinh viên du học ở Pháp do học bổng của Việt Nam Cộng Hoà cấp vào đầu thập niện 1960. Trong thời gian học tập và làm việc tại Pháp, ông được móc nối (?) và cùng với Nguyễn Ngọc Giao (hiện còn ở Pháp) lãnh đạo Hội Liên Hiệp Sinh viên tại Pháp vào giữa thập niên 60. Chúng tôi có dịp gặp gỡ (?) hay chạm trán (?) ông vài lần ở hí viện Maubert bên Pháp.

 

Về nước sau 1975, ông trực tiếp tham gia vào guồng máy lãnh đạo của đảng Cộng sản. Từ vai trò quản lý "người Việt ở nước ngoài" đến các dịch vụ trong quốc hội sau khi ông được chỉ định làm đại biểu quốc hội.

 

Chúng tôi không còn nhớ rõ ông tranh cử ở đơn vị nào vì điều đó không cần thiết, vì ông có thể được chỉ định ứng cử bất cứ nơi đâu đảng cần, dù biết rằng ông không phải là người địa phương nơi ông ứng cử. Và kết cuộc ông vẫn đắc cử với số phiếu 99,..%.

 

Sau nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc Hội CS Việt Nam, ông được "điều" về làm công việc quản lý phát triển vùng ĐBSCL cho đến ngày hôm nay.

 

Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân và Dự án nhà máy giấy Hậu Giang.

 

Do chức vụ và nhiều liên hệ với các cấp lãnh đạo , dự án trên được chấp thuận dễ dàng không cần thông qua những thủ tục hành chánh trước khi bắt đầu xây dựng nhà máy.

Khi TS Phạm Mạnh Tài, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ Môi trường, thuộc Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Mội trường Việt Nam cho rắng :"Danh mục các dự án phải lập báo cáo tác động môi trường ban hành…". GSTS Nguyễn Ngọc Trân trả lời rằng:"Tôi lập tức gặp TS Phạm Khôi Nguyên, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường nói đang giúp Hậu Giang làm báo cáo tác động môi trường. Và việc nầy là làm thêm cho chắc chứ pháp luật không bắt buộc ," (trích báo Thanh Niên Online ngày 20/9/2007)

 

Nhận thấy đây là một dự án lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn vùng ĐBSCL, chúng tôi thấy có bổn phận nói lên một vài quyết định tuỳ tiện vượt qua mọi thủ tục pháp lý và không cần lưu tâm đến việc bảo vệ môi trường. Hai điều "bức xúc" qua phát biểu của GS TS Nguyễn Ngọc Trân phản ảnh lề lối làm việc hết sức "xã hội chủ nghĩa". Đó là:

 

1-    Bộ trưởng nói sẽ làm báo cáo tác động môi trường của nhà máy trong khi nhà máy đang được xây cất. Như vậy mục đích của việc nghiên cứu tác động môi trường là gì nếu không là xét đến tính khả thi của nhà máy đối với môi trường chung quanh trước khi được cấp giấy phép xây dựng?

 

2-    Còn Giáo sư Tiến sĩ nói làm là làm thêm chứ luật Mội trường không bắt buộc. Chúng tôi xin trích ra đây Chương I Điều 2/11 của Luật môi trường Việt Nam do Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh phê chuẩn ngày 8/1/1994 :"Đánh giá tác động mội trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội , an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất  các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường."

 

Thưa Giáo sư Tiến sĩ, cơ sở văn hoá (không tạo ra phế thải rắn, lỏng và khí!) nhưng theo luật Môi trường cũng cần phải có đánh giá tác động môi trường trước khi chấp thuận dự án huống chi một dự án lớn như dự án nhà máy giấy Hậu Giang hàng năm có trên 30 ngàn tấn xút caustic thải vào môi trường cùng với hàng trăm triệu m3 nước trong quá trình làm bột giấy?

 

Sau đó Giáo sư Tiến sĩ lại phán tiếp :"Dây chuyền sản xuất của các nhà máy giấy Lee&Man (tên đúng là Lee&Man Paper) đều đạt chuẩn ISO 9000, ISO 14000. Tôi không ăn một xu nào của nhà đầu tư, tôi nói trên cơ sở kiểm chứng kỹ của một nhà khoa học." (báo đã dẫn ở phần trên).

 

Thưa Giáo sư, chúng tôi lại có thêm "bức xúc" về phát biểu trên của một giáo sư tiến sĩ toán:

 

1- Cty Lee&Man Paper là một Cty có đăng ký tiêu chuẩn ISO 9001 và ISO 14001. Hai nhóm tiêu chuẩn nầy khác và cao hơn tiêu chuẩn mà GS tuyên bố không đúng sự thật.

 

2 - Giáo sư nói thêm là "tôi không ăn một xu nào của nhà đầu tư", điều nầy làm cho người viết tự đặt dấu hỏi là như vậy trong những lần chấp thuận các dự án trước kia, có lẽ GS có ăn "vài đồng xu" chăng?

 

3 – Giáo sư nói trên cơ sở kiểm chứng "kỹ của một nhà khoa học". Xin thưa, Giáo sư là một tiến sĩ toán, và sinh hoạt "chính trị" từ trước năm 1975 đến nay, Giáo sư bận biết bao công việc bên trong và ngoài nước; vã lại chuyên môn của giáo sư là Toán học…Như vậy làm thế nào Giáo sư kiểm chứng "kỹ" được vì không nằm trong chuyên môn của mình. Khi đi tham quan nhà máy giấy Lee&Man Paper ở Hong Kong,  giáo sư có thu thập được quy trình chế tạo bột giấy cùng những phương pháp tái tạo lại xút caustic cùng quy trình xử lý nước thải…để có thể áp dụng cho nhà máy giấy ở Hậu Giang hay không?

 

Qua một số bức xúc trên đây, chúng tôi nhận thấy dù sao Giáo sư đã từng là một Chủ nhiệm Uỷ ban ở Quốc hội, cơ quan tạo dựng luật pháp cho Việt Nam, Giáo sư phải là người cần hiểu "tường tận" các luật lệ liên hệ đến các chuyên môn nhất là trong lãnh vực khoa học và môi trường  để hướng dẫn "nhân dân" làm đúng trong công cuộc phát triển Đất và Nước.

 

Hy vọng trong những quyết định cho các dự án trong tương lai ở ĐBSCL, Giáo sư cần thận trọng hơn trong việc phát biểu những lời vàng ngọc để cho bà con vùng ĐBSCL có cơ may hưởng được một phần phúc lợi do Tiến sĩ ban bố.

 

Khoa học cần phải "trong sáng" và chính xác.

 

Kính chúc Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trân được nhiều sức khoẻ và giữ vững lương tâm chức nghiệp trong sáng của một nhà khoa học gốc chuyên toán nhất là trong trách nhiệm đối với sự sống còn của ngườ8i dân vùng Hậu Giang.

 

Mai Thanh Truyết

West Covina 10/2007

 

 

 

 

 

//////////////////////////////////////////////////