Đại Họa Mất Nước

 

  1. Xin anh cho biết chiến lược thôn tính Việt Nam của TQ bao gồm những kế hoạch nào là quan trọng nhất, tạo sức ép nhiều nhất lên đảng cộng sản Việt Nam?

                                     Sức ép của Trung Cộng

 

Tất cả sức ép hội tụ vào một điểm duy nhứt là Trung Cộng đang trên đường tiến chiếm Việt Nam, nếu không muốn nói là đô hộ Việt Nam, dưới nhiều hình thức như kinh tế, chính trị, xã hội, và lãnh thổ, thực hiện đường lối do Mao Trạch Đông chủ xướng ngay sau khi chiếm toàn thể nội địa của Trung Hoa vào năm 1949, đặc biệt là sau khi Hồ Chí Minh sang Tàu cầu viện năm 1950.

 

          Trong quá trình lịch sử, chúng ta thấy rất rõ tham vọng chiếm đóng Việt     Nam của người Hán đã xảy ra hàng ngàn năm trước và VN chịu bốn lần ách    đô hộ. Và hôm nay, dưới cuộc chiến không tiếng súng, lại thêm một lần      nữa, cuộc đô hộ mới đang xảy ra, thể hiện quyết định của Hội nghị Thành       Đô ngày 3-4 tháng 9 năm 1990.

          Cuối cùng, công cuộc thực hiện Bắc thuộc hoàn toàn bằng cách biến Việt         Nam   thành Nam Việt, một tỉnh theo quy chế tự trị phía Nam thuộc Trung            Cộng…và ngôi sao thứ năm trên lá cờ TC đã xuất hiện trong các cuộc          giao tiếp hòa đàm giữa TC và VN từ năm 2011…để chờ ngày chính thức           công bố tự trị vào năm 2020 theo lịch trình từng bước, cho đến 2040 và    2060?

          Trước năm 2008, người Trung Hoa khi vào Việt Nam được miễn nhiễm visa      (chiếu khán) và có thể di chuyển tự do trong phạm vi miền Bắc mà thôi. Cuối   năm 2008, Thủ tướng cs Nguyễn Tấn Dũng lại miễn chiếu khán và nới rộng      vùng di chuyển của người Tàu đến tận Cà Mau. Quyết định nầy chính là điểm     mấu chốt và là điểm khởi đầu thực sự trong âm mưu Hán hóa Việt Nam           của TC.

          Có thể nói hiện nay, sự hiện diện của người Tàu trên khắp hang cùng ngõ hẹp          của đất nước. Trong hơn 65 Khu chế xuất, Khu công nghiệp tập trung, không        đâu là không thấy công nhân, quản đốc và chủ nhân người Hoa, trong lúc người     lao động Việt Nam khắp nơi phải chịu cảnh thất nghiệp! Trong các nhà máy sản xuất có tính cách quốc phòng như nhà máy phát điện, nhà máy gang thép, sản           xuất hóa chất công nghiệp…đâu đâu cũng có chủ nhân và công nhân người   Tàu…

          Quan trọng hơn cả là sự hiện diện của người thiểu số Tày và người King sống      dọc theo chiều dài biên giới Việt-Trung tới tận tỉnh Quảng Đông. Hai nhóm thiểu        số nầy hiểu được tiếng Việt, có khuynh hướng thân TC và đã được TC   khuyến dụ như là một đạo quân thứ năm của TC một khi có chiến tranh xảy ra.    Cùng với việc tạo ra sức ép ở biển Đông để tạo chú ý của thế giới tự do. Nhưng    đó chỉ là Diện. Mà Điểm chính là đất liền, Trung Cộng gậm nhắm từ từ bằng   cách tập trung hơn 49 địa điểm có trên 10 ngàn di dân trên toàn quốc. Đây là một cuộc chiến không tiếng súng và thế giới không thể can thiệp được.

 

  1. Một trong những chủ trương gặm nhấm Việt Nam từng phần của TQ là đổ người vào Việt Nam.  Xin anh cho biết TQ đã chuẩn bị cho kế hoạch và khai triển như thế nào?

 

                         Trung Cộng khai triển kế hoạch tiến chiếm Việt Nam

 

Thưa anh, trước mặt tôi là bản đồ Việt Nam, với 49 địa điểm tập trung của người Tàu từ Bắc chí Nam, một đỉnh của tam giác từ vùng biển sâu Vũng Áng (Hà Tĩnh) đến Cửa Việt (Quảng Trị), và đỉnh thứ ba là Tp Du Lâm, thành phố cực Nam của đảo Hải Nam. Tam giác nầy là cửa ngỏ kiểm soát toàn vịnh Bắc Việt.

 

Như đã vừa nêu ở phần trên, một mục tiêu của TC mà ít nhà nhận định chính trị ít lưu tâm đến là việc Đồng hóa tiệm tiến các dân tộc thiểu số miền Cao nguyên Trung phần. Hiện tại, TC đã phối hợp một cách gián tiếp với người Chăm và người thiểu số ở cao nguyên Bolloven bên Lào, Cambodia và nhập nhằng tóm gọn các dân tộc Chăm và Thượng làm một, dưới danh nghĩa Fulro/Chăm để khích động nhu cầu dành lại chủ quyền của vương quốc Champa do một nhóm người Chăm bên Pháp dưới quyền lãnh đạo của TS Po Dharma cổ súy. Nhóm nầy cũng đã được hỗ trợ của thực          dân Pháp vốn đã có nhiều quyền lợi tại vùng cao nguyên nầy hồi thời thuộc địa. Cũng cần nên biết thêm, người Thượng ở vùng cao nguyên hiện tại cũng đã được các hội thiện nguyên và tôn giáo Hoa Kỳ yễm trợ dưới danh nghĩa Dega. Theo tin tức           được loan tải trên mạng lưới toàn cầu, họ đã hình thành tổ chức The Cham National        Federation of Cambodia (CNFC) và đã được Liên Hiệp Quốc công nhận qua           Department of Economic and Social Affairs (DESA) dưới quy chế tham mưu (consultative status) kề từ năm 2009.

          Sau cùng, khi "Ông Thầy đỡ đầu" người Pháp của TS Po Dharma qua đời, vị tiến      sĩ nầy đi tìm chỗ dựa mới là TC và chuyển trục hoạt động về Malaysia, phối hợp      cùng một tổ chức chánh trị ở Hoa Kỳ, lấy danh nghĩa giúp đở người Chàm ở           Cambodia để làm địa bàn hoạt động nhằm tiếp tay TC, dưới danh nghĩa Đại học           Tôn Dật Tiên trong việc chia cắt cao nguyên Trung phần Việt Nam thành   vùng tự trị trong tinh thần của Chính sách dân tộc bản địa qua Nghị quyết    của LHQ "Rights of Indegenous Poeples" ngày 29-6-2006.

Một tổ chức thứ hai là The Overseas Cham Unity Organization (OCUO), cũng do một TS người Chăm khác đứng ra, và  cũng đang xúc tiến đưa hồ sơ lên LHQ và Thụy Điển để ghi danh xin thành lập Chính phủ lưu vong Chăm (The Cham National Government In Exile). Chính phủ nầy sẽ ở ngoài lãnh thổ truyền thống của Champa là miền Trung VN, mục đích nhằm duy trì sự hiện hữu của chính phủ hoàng gia Champa trước đây. Cũng      theo dự định, chính phủ nầy sẽ phác thảo bản hiến pháp và triệu tập Đại hội để bầu ra Thủ tướng và các Bộ trưởng vào nội các.

          Qua các tin tức trên, chúng ta thấy rõ ràng là phải có bàn tay lông lá của TC mới thực hiện được những dự tính thành lập chính phủ lưu vong của người Chăm.    Theo một nguồn tin đáng tin cậy, chính phủ lưu vong ban đầu sẽ đặt trụ sở     tại đảo Hải Nam (TC), nơi có một cộng đồng thiểu số người Chăm nay gọi         là Utsat cư ngụ. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó, dự định trên đã được           hủy bỏ vì muốn tránh sự phản kháng của các thành viên LHQ khác, văn phòng    chính phủ lưu vong lấy Thụy Điển làm văn phòng tạm là P.O. Bax 122, SE- 33523, Gnosjo, vì tại nơi nầy, cũng có một tiến sĩ người Chăm định cư nhằm tạo    danh nghĩa để gây áp lực với cs Bắc Việt một khi cần thiết. Và một trụ sở khác       của chính phủ lấy Cambodia làm căn cứ địa đặt tại Phnom Penh, P.O.           Box    1635 Phnom Penh 12000. Hiện tại (7/2014), theo tin tức mới nhứt, người TS           nầy đã di dời sang Bangkok, có lẽ sẽ nhằm mục đích di chuyển trụ sở chính phủ       về thánh phố nầy chăng?

          Vậy, câu hỏi được đặt ra là: Trung Cộng giúp người Chăm hải ngoại nhằm      mục đích gì? 

          Câu trả lời giản dị sẽ là TC muốn hoàn toàn khống chế VN trong lãnh vực       chính trị-kinh tế-quân sự qua việc kiểm soát vùng cao nguyên Trung phần   VN. Nắm được cao nguyên nầy, TC sẽ biến thành một vùng lệ thuộc như miền         đất Tây Tạng năm 1959 và Tân Cương, 1949. Đã nắm được yết hầu của VN rồi           mặc nhiên TC có toàn khả năng khống chế lãnh đạo hiện tại của cs Bắc Việt       trong mọi tình huống.

                    Như vậy, qua trường hợp VN, cuối cùng, âm mưu chiếm đóng tiệm tiến          Việt Nam của TC trong việc cố gắng chia đôi Nam và Bắc Việt Nam bằng cách         chiếm đóng cao nguyên Trung phần Việt Nam bằng nhân sự, bằng những cuộc        hôn nhân dị chủng. Để rồi, từ đó khi họ đạt được mục tiêu và dân số, TC có thể        vin vào lý do       "công dân bản địa" để đòi "tự trị". Và Việt Nam sẽ bị tách làm đôi      không có một tiếng súng nào cả và thế giới khóng có lý do can thiệp cho sự chiếm đóng nầy của Trung Cộng. Như vậy, TC đã thành công trong việc tách        làm đôi Việt Nam.

 

          Tại miền Bắc hiện nay, TC đã kiểm soát 9 tỉnh địa đầu với tên đường xá hoàn        toàn bằng tiếng Hán. Hầu hết các khu công nghiệp ở các thành phố lớn ở miền         Bắc hiện nay là những khu "tự trị" của họ, trong đó công an, quân đội CS không    được quyền léo hánh tới, ngay cả những khi có án mạng hay xung đột giữa công           nhân Việt và Hoa.

 

          Từ cung cách suy luận trên, TC sẽ biến Việt Nam thành hai vùng tự trị kinh tế    khác nhau, trong đó hình thức kinh tế tập trung chỉ huy và lệ thuộc ảnh   hưởng chánh trị TC dành cho miền Bắc. Và miền Nam, TC còn dè chứng           sức đề kháng của dân miền Nam, do đó chưa thể mạnh tay vì còn có sự "dòm        ngó" của thế giới bên ngoài.

 

          Và một khi chia được Việt Nam rồi, vấn đề tiến chiếm trọn miền Nam cũng     chỉ là vấn đề thời gian mà thôi.          

 

 

 

  1. Chúng ta không đến nỗi có cái nhìn chủ quan khi cho rằng CSVN lại không biết, một khi cho TQ trúng thầu đa số những họp đồng chiến lược, là giao vận mệnh đất nước cho kẻ thù. Nhưng theo anh, tại sao biết vậy mà CSVN vẫn tạo điều kiện cho TQ trúng thầu?

 

                     Hợp đồng chiến lược với Trung Cộng

 

Có nhiều lý do khiến cho cs Bắc Việt giao trọn các hợp đồng chiến lược có tinh cách quân sự và quốc phòng cùng kinh tế quốc gia cho TC như khai thác bauxite, nhá máy phát điện, khai thác sắt thép, hóa chất, xi măng v.v…Đó là:

 

-       CS Bắc Việt phải làm theo lệnh của cs Tàu;

-       Cho Tàu trúng thầu mới có lý do "ăn chận" và rút ruột;

-       TC cho thầu với giá rẽ mạt để trúng thầu trước, rồi sau đó, khi thực hiện nửa chừng thì tuyên bố hết vốn, phải cần rót thêm vốn vào. Trường hợp khai thác Bauxite Tân Rai và Nhân Cơ là thí dụ điển hình. Chi phí ban đầu là 600.000 triệu Mỹ kim cho Tân Rai. Khi bắt đầu khai thác, đã phải tiếp vốn thêm 700 triệu nữa. Và từ khi bắt đầu khai thác thử (từ 2010) đến nay, hàng năm Cty phải chịu lỗ từ 30 đến 50 triệu. Và thử nghĩ, một số tiền lớn … sẽ chui vào túi của của cs Bắc Việt là bao nhiêu?

-       Nhưng theo tôi, lý do rốt ráo nhứt là CS Bắc Việt đã bán "linh hồn" cho TC rồi, thì quốc gia, Đất và Nước Việt Nam có nghĩa gì đâu đối với họ!

 

 

          4. Là một người nghiên cứu về môi trường, anh đã trích dẫn câu nói giá trị           của TT Franklin D. Roosevelt: "A nation that destroys its soils destroys           itself. Forests are the lungs of our land, purifying the air and giving fresh        strength to our people". Câu nói nầy liên quan đến hiện trạng của VN, xin           anh giải thích một cách cụ thể hơn?

 

                                         Rừng là buồng phổi của Đất

 

          TT Roosevelt đã nói một câu rất xác thực, vì Rừng có thể được xem như là    buồng phổi của Đất. Cây ban ngày hút khí carbonic (thán khí) và nhả ra dưởng         khí (oxygen). Việt Nam ngày nay vì nhu cầu phát triển và mức gia tăng dân số,    do đó phá rừng để có thêm đất trồng trọt và biến rừng thành khu dân cư. Hai việc làm nầy không có kế hoạch, làm theo cung cách "mì ăn liền" cho nên không khí      bị ô nhiễm làm cho buồng phổi của Đất ngày càng bị thu hẹp.

 

Chính vì vậy, mà mỗi người con Việt phải biết tự cứu lầy mình. Đó là:

 

-       Nâng cao ý thức và khái niệm đúng đắn trong việc hạn chế ô nhiễm không khí;

-       Giảm thiểu việc phí phạm trong nhu cầu sinh hoạt, ăn uống thường ngày;

-       Tái xử dụng những vật dụng nào có thể dùng lại được;

-       Tiết kiệm nguồn điện năng, năng lượng dùng cho việc di chuyển và các tiện nghi cá nhân;

-       Không phí phạm nguồn nước;

-           Trồng thêm cây xanh (một cây xanh hấp thụ 1 tấn CO2/năm);

-           Cổ súy bà con, hàng xóm tham gia vào việc hạn chế thải hồi thán khí vào môi trường.

 

          Làm được như thế, chúng ta vô hình chung đã làm tròn bổn phận của chúng ta đối với con cháu thuộc các thế hệ về sau.

 

 

          5. Dựa trên những công trình nghiên cứu của anh về môi trường, nếu không được bảo vệ có hệ thống, sẽ là mối nguy hại trầm trong cho đất nước.  Xin anh hãy chia sẻ với với người trong nước, những người bị CSVN bưng bít thông tin, và không có cơ hội để hiểu vấn đề cốt lõi này? 

 

                                         Chia sẻ cùng người trong nước

          Trong cuốn sách "Việt Nam Tương Lai: Những việc cần phải làm Tập I và Tập II", tôi nêu lên những việc cần phải làm cấp bách ở Việt Nam sau một thời gian dài dưới sự cai trị của CS Bắc Việt. Đó là những vấn đề y tế công cộng cần phải được hồi phục, nhứt là ở những vùng nông thôn hay đồi núi cách xa các thành phố lớn.

Vì sao? Vì đây là nơi dung chứa thành phần nghèo khổ nhứt nước, chiếm hơn 50% dân số Việt Nam.

Việc làm cấp bách thứ hai là xây dựng lại "nền móng" giáo dục để nhanh chóng thay thế hệ thống giáo dục vô cảm và vô đạo của một chế độ xây dựng trên căn bản chuyên chính vô sản toàn trị. Gấp rút phục hồi tình thần và mục tiêu giáo dục: Nhân bản, Dân tộc, Khoa học, và Khai phóng. Đây sẽ là một việc làm thiết yếu của những người con Việt ngay sau khi nước nhà có được dân chủ, tự do, và nhân quyền.

Và trong suốt 25 năm qua, Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam tại Hoa Kỳ luôn nêu lên các vấn để cần phải làm cho việc phát triển Việt Nam trong tương lai là chấn chỉnh y tế công cộng, cải thiện giáo dục, và phục hồi môi trường…Đó là ba mục tiêu chánh một khi cơ chế của cọng sản Bắc Việt không còn hiện diện trên dãy đất hình chữ S thân yêu của chúng ta nữa.

          Chưa bao giờ hết, tình trạng y tế công cộng, giáo dục, và môi trường tệ hại như lúc nầy, nếu so sánh với bất cứ thời điểm nào trước đó của Việt Nam.

          May mắn thay, vận nước đã mang đến cho quê hương một tập hợp lớn để hòa nhập vào hợp tấu …xây dựng non sông với trên 300.000 chuyên viên hải ngoại và nhiều người con Việt trong nước, đầy kinh nghiệm và tiếp cận trực tiếp với văn minh thế giới, thích hợp cho những trao đổi kỹ thuật, thương mại, và hợp tác đa phương.

Những vấn đề như Nước, Không Khí, Đất cần được mổ xẻ cặn kẽ, trong đó lấy việc bảo vệ, bảo quản, bảo trì, và nhứt là …đừng phí phạm; vì đây là gia tài của tiền nhân để lại. Thế hệ chúng ta ngày hôm nay phải gìn giữ lấy. Nếu không, chúng ta sẽ có lỗi với các thế hệ tiếp nối sau đó.

Xin đừng làm "con nợ" của các thế hệ con cháu về sau!

 


Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/

_____________________________________________________

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-

 "A nation that destroys its soils destroys itself. Forests are the lungs of our land,

purifying the air and giving fresh strength to our people." —Franklin D. Roosevelt 

 

 
 
 
 

Lối Thoát nào cho Việt Nam? (Bài II)

                                                                                                                   Hội luận 26-10-2014 do BYNTV Houston

 

Tình thế của Việt Nam

1. Việt Nam đã bỏ phí nhiều thời gian

Chủ quyền biển và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là vấn đề lớn, đáng lẽ ra nhà cầm quyền Việt Nam đã phải lưu tâm đến kế hoạch bảo vệ từ rất lâu, ít nhất cũng phải từ năm 1975 khi đất nước thống nhất. Thế nhưng CSVN đã không hề để ý và còn né tránh vấn đề khi báo chí đề cập tới.

Tới nay thì ai cũng đều thấy là mọi chuyện đã quá muộn.

Làm sao có thể lấy lại Hoàng Sa hay các đảo vùng Trường Sa?

Làm sao có thể bảo vệ ngư dân VN đánh cá trong vùng lân cận 2 quần đảo này?

Làm sao có thể bảo vệ quyền lợi dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của mình?

Sự lảng tránh công việc bảo vệ lãnh hải trong một thời gian dài đã lấy đi biết bao cơ hội và ngày nay đã đặt VN vào tình thế thập phần nguy hiểm trước tình trạng mất chủ quyền trong vùng Biển Đông.

2. CS Việt Nam vẫn coi trọng vấn đề ý thức hệ cộng sản

Lý do mà CSVN đã không dứt khoát trong ý hướng chống lại TC chính là ý thức hệ cộng sản, như Thứ trưởng Bộ Quốc phòng VN, Nguyễn Chí Vịnh khẳng định mới đây: "Di sản quý báu hàng đầu mà Việt Nam và Trung Quốc có được chính là sự tương đồng ý thức hệ". VN cần phải làm bạn với TC để đảng CSVN giữ vững ngôi vị. Nếu CSVN cắt đứt liên hệ với đảng TC thì số phận của CSVN cũng sẽ chấm dứt. Việc đặt quyền lợi bè phái mình lên trên cả dân tộc là chọn lựa rất tự nhiên của bất cứ chế độ độc tài nào vì đây là bản chất con người; bất cứ quyền lực nào mà không bị kiểm soát cũng sẽ trở thành thứ quyền lực thối nát, ích kỷ. CSVN chọn con đường ôm chân TC cũng chỉ là điều tất nhiên.

Cho tới ngày nay, ảnh hưởng của TC đã áp đảo lên mọi lãnh vực sinh hoạt của VN: kinh tế, văn hóa, năng lượng, chính trị… và sẽ phải mất thời gian dài mới có thể gỡ bỏ; ngay cả trong trường hợp nếu VN trở thành một nước dân chủ. Những ảnh hưởng này là những bước giày xâm lăng và ngày càng hiện rõ nhưng trước khi TC có thể nắm chắc vận mệnh VN trong lòng bàn tay thì đám tay sai CSVN rất sợ âm mưu bị bại lộ, và họ phải tìm cách che dấu, bằng phương cách công an trị và tuyên truyền lý thuyết 'trục xoay'.

3. CSVN bày ra giả thuyết trục xoay để mua thời gian cho TC thực hiện tiến trình xâm lược

Thế trục xoay là thế cân bằng đứng ở giữa các thế lực chi phối nhưng không bị nghiêng về phía nào như một cái trục bánh xe. Ở thế này thì sẽ không bị lôi kéo về bất cứ phe nào (để có thể trở thành nạn nhân trong các tranh chấp giữa các thế lực lớn), từ đó bảo vệ được vị trí độc lập của mình và hưởng lợi (mà không bị hại) từ sự tranh chấp. Trong phạm vi Biển Đông, thế trục xoay giả định cuộc tranh chấp ở Biển Đông là tranh chấp giữa Mỹ và TC; chứ không phải giữa VN và TC.

Với lối giải thích 'thế trục xoay' này của CSVN để đối đầu với TC rõ ràng là một hình thức ngụy biện. Thực tế là VN đối đầu với nguy cơ xâm lăng của TC chứ không phải VN bị lôi cuốn vào tranh chấp giữa Mỹ và TC ở Biển Đông. CSVN thường bào chữa cho thái độ yếu hèn trước TC bằng sách lược hòa bình để không chọc giận TC vì sợ, đồng thời kêu mời các cường quốc khác vào các hiệp ước kinh tế để làm đối trọng với TC. Điểm mỵ dân xảy ra ở đây, điều vô lý là trong giới hạn thương mại, tại sao các nước lớn có hiệp ước thương mại với VN phải điều động quân đội tới bảo vệ biển đảo cho VN?    

4. Chính sách quốc phòng 3 không của Việt Nam

Việt Nam không những 'làm bạn' với TC trên phương diện ý thức hệ, kinh tế, ngoại giao mà còn ở lãnh vực quốc phòng với chính sách 3 không. Việt Nam hứa với TC sẽ:

*         (1) không tham gia các liên minh quân sự,

*         (2) không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào,

*         (3) không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.

Và với những điều hứa này, Bộ Quốc phòng Việt Nam còn có thể làm gì khi đội quân xâm lăng TC xuất hiện trước cửa nhà?

5. CSVN có thiện chí bảo vệ biển đảo hay không?

Nguy cơ mất đảo, mất biển của Việt Nam ngày càng đến gần và với vai trò điều hành đất nước của đảng CSVN, chúng ta cần phải đặt câu hỏi về việc CSVN đã làm gì mà Việt Nam rơi vào tình trạng nguy cấp hiện nay. Để hiểu sự thiếu sót của CSVN trong vấn đề đối phó với TC thì cần phải hiểu mưu đồ và chiến lược xâm chiếm Biển Đông của TC.

  • Điều đầu tiên cần phải nêu ra là: chiến lược lấn chiếm Biển Đông của TC không dựa vào thế lực quân sự mà là lực lượng bán quân sự, bao gồm những lực lượng như hải giám, ngư chính, cảnh sát biển… TC lựa chọn phương pháp này nhằm tránh đối đầu quân sự với Mỹ; nhưng lại có dư khả năng để lấn át các nước láng giềng. Với hình thức này, TC sẽ có thể quấy rối thường xuyên, dùng số đông để làm tiêu hao lực lượng đối phương và luôn đặt đối phương ở tình thế căng thẳng. Một lý do nữa cho lựa chọn này là TC có thể nại cớ làm nhiệm vụ tuần hành, giám sát lãnh hải của họ chứ không phải xâm chiếm nước khác.
  • Để đối phó với chiến lược này thì chỉ có thể dùng lực lượng bán quân sự, vì nếu dùng quân sự thì chẳng khác nào là kẻ gây chiến và TC sẽ có lý do cho quân đội họ nhảy vào. Chiến lược này của TC đối với Việt Nam càng hiệu quả hơn vì VN thực sự chưa có lực lượng cảnh sát biển hùng mạnh. Hãy thử lược qua lực lượng bán quân sự bảo vệ biển của VN:

Lực lượng bảo vệ biển của Việt Nam gọi là Cục Cảnh Sát Biển Việt Nam (CSBVN), được thành lập ngày 28/8/1998. Nhiệm vụ của cục CSBVN là 'thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và các điều ước quốc tế có liên quan mà nước này ký kết hoặc tham gia trên các vùng biển và thềm lục địa của mình' (theo wiki). Hiện nay, lực lượng CSBVN ra sao vẫn chưa có một thống kê hay bất cứ công văn nhà nước nào nêu lên việc xây dựng một lực lượng vững mạnh; số tàu hoạt động và quân số vẫn chưa rõ ràng.

Một lực lượng bán quân sự khác được dùng trong việc bảo vệ ngư trường và cứu giúp ngư dân là kiểm ngư. Lực lượng Kiểm Ngư Việt Nam cũng chỉ vừa được thành lập, bắt đầu hoạt động vào cuối tháng 1 năm 2013.

Như thế, hai lực lượng chính để bảo vệ tài nguyên biển và chủ quyền kinh tế của VN mới chỉ ở giai đoạn thành lập, nhưng lại không được nhà cầm quyền VN tăng tốc xây dựng để bắt kịp tình huống đòi hỏi, cho dù chi phí xây dựng đội tàu cảnh sát biển chỉ là phần nhỏ so với chi phí tàu quân sự. Thiếu sót này rõ ràng là cố ý trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. 

Hiện nay, TC với chính sách gây hấn liên tục, thường xuyên qua các biện pháp dân sự như khuyến khích ngư dân xuống Biển Đông đánh cá, cho đấu thầu các lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của VN, leo thang tiến trình thành lập thành phố Tam Sa, điều tàu hải giám tuần tra thường xuyên vùng BĐ, đã làm thế giới quen dần với sự hiện diện của TC và hầu như đã mặc nhiên xem vùng Biển Đông là 'vùng tranh chấp' (bao gồm các hòn đảo, bãi đá trong đó), chứ không phải TC thực hiện xâm lấn.

Khi đã thừa nhận TC cũng có phần trong 'vùng tranh chấp' thì, theo lẽ tự nhiên, cách giải quyết tốt nhất mà các nước bên ngoài đề nghị là phương pháp hòa bình, thông qua luật lệ quốc tế. Dù vậy, trên thực tế TC đang ở thế nước lớn và có nhiều lợi điểm đối với các nước nhỏ trong vùng, họ sẽ không dại gì phải tuân theo luật biển quốc tế để rơi vào thế bất lợi và sẽ tiếp tục lấn tới để giành hết Biển Đông?

TC đã thể thực hiện những bước sau đây:

  • Khuyến khích ngư dân của họ đánh cá trong vùng lưỡi bò (xin nhấn mạnh vùng lưỡi bò có thể lấn vào cách bờ biển VN khoảng 60 hải lý) và điều tàu hải giám đi theo bảo vệ;
  • Chận xét hay ngăn cấm ngư dân VN đánh cá trong vùng lưỡi bò;
  • Dùng tàu hải giám và tàu cá ngư dân để khiêu khích vài hòn đảo vùng Trường Sa còn lại do VN chiếm giữ.
  • Rồi sau cùng sẽ ra lệnh cho quân đội VN trú đóng trên đảo phải rời đảo vì chiếm đóng bất hợp pháp;

Để rồi, sau đó, TC sẽ hợp tác với Phi Luật Tân khai thác dầu khí vùng Trường Sa; hay hợp tác với Đài Loan khai thác vùng đảo Ba Bình (thuộc Trường Sa);

TC đề nghị cùng hợp tác hay độc quyền khai thác dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của VN;

TC dùng biện pháp phá rối như đã dùng trước đây bằng việc cắt cáp để ngăn cản VN khai thác dầu khí trong vùng lãnh hải của mình.

Do lực lượng Cảnh Sát biển yếu kém, VN sẽ khó lòng chống đỡ bất cứ hành động nào của TC như kể trên, ngay cả nếu CSVN dùng biện pháp quân sự như đem tàu chiến, chiến đấu cơ để đối phó thì cũng chỉ tạo lý do để TC chứng minh với thế giới là VN đã gây hấn trước và thực hiện bước xâm lăng.

Đối với TC, giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp quân sự là điều chính họ cũng muốn tránh, vì chẳng khác nào trải thảm đỏ mời Mỹ cũng như Ấn Độ, Nga, Âu Châu nhảy vào khu vực. Ngày nay nhiều cường quốc xem vùng Châu Á Thái Bình Dương là vùng kinh tế đang lên và sẽ qua mặt cả khối Âu Châu. Chính sách quay trở lại Châu Á của Mỹ cũng là từ triển vọng này; xin mở ngoặc ở đây, ý nghĩa sự trở lại Á Châu của Mỹ chỉ nhằm duy trì ổn định khu vực, tức là Mỹ không muốn chiến tranh xảy ra, chứ không bênh vực quyền lợi cho bất cứ nước nào hay bao vây TC.

Như thế rõ ràng là TC khó có thể khống chế Biển Đông bằng quân sự, cũng như VN không thể bảo vệ biển đảo bằng quân sự. TC còn lại một con đường khôn ngoan nhất là dùng lực lượng bán quân sự; VN cũng phải làm như thế để bảo vệ đất nước. Giả như TC dùng tàu hải giám và máy bay trinh sát quấy nhiễu thường xuyên các hòn đảo thuộc Trường Sa do VN chiếm đóng (như đã làm với Nhật), ngăn cản những tàu tiếp liệu từ đất liền ra, cho hàng trăm ngư dân của họ đổ bộ lên đảo… thì VN sẽ làm cách nào để xua đuổi?

Vậy chuyện đã rõ, và câu kết luận là CSVN hoàn toàn không đủ khả năng bảo vệ biển đảo với sức mạnh quân sự cũng như bán quân sự.

Tại sao sự thể xảy ra tới nước "bí" này?

Vì:

  • Đảng CSVN không có quyết tâm bảo vệ biển đảo, hay là đã có thỏa thuận bán nước qua Hội nghị Thành Đô năm 1990 chẳng hạn!
  • Hoặc CSVN đã quá chậm trễ trong việc xây dựng lực lượng bảo vệ biển đảo;
  • Hoặc tham nhũng và thiếu khả năng điều hành của CSVN đã làm đất nước mất hết nội lực;
  • Hoặc rốt ráo hơn hết là giới lãnh đạo CSVN vẫn khư khư ôm chặt cơ chế chuyên chính vô sản của chủ nghĩa cộng sản và vì thế phải chịu sự điều khiển, chi phối của TC, nhất là càng đẩy VN sâu hơn vào lệ thuộc TC.

Trước sự lấn tới ngày càng nhiều của TC ở Biển Đông nhưng CSVN luôn luôn kêu gọi giải quyết trong tinh thần hòa bình và không hề có một phản ứng thực tế nào. Đây là kết quả của mục tiêu đặt sự việc bảo vệ đảng lên hàng đầu, và như thế, công tác bảo vệ biển đảo chỉ là phần phụ thuộc.

6. Lối thoát nào cho đất nước và dân tộc Việt Nam

Đảng CSVN đang đưa đất nước vào vòng nô lệ phương Bắc. Đây là điều mà không một người dân VN nào có thể chấp nhận được. Nhưng vấn đề khó phát giác ở đây là tiến trình lệ thuộc xảy ra từng bước một và âm thầm dưới các hình thức ngoại giao, kinh tế, chính trị và nhất là được xúc tiến bằng vai trò tay sai ngấm ngầm của đảng CSVN. Bởi âm thầm nên cho tới ngày nay đảng CSVN vẫn còn che dấu được sự việc và nhiều người dân VN vẫn chưa nhìn thấy sự thật. Vì thế sự thật về nguy cơ mất nước cần phải được phô bày ra ánh sáng để mọi người dân VN đều biết.

a-    Âm mưu bán nước của đảng CSVN cần phải bị lật tẩy

Ai cũng có thể nhận ra lý lẽ muốn chống giặc ngoại xâm hữu hiệu thì phải loại trừ giặc nội xâm. Nhưng trước khi muốn diệt trừ giặc nội xâm thì phải xác định thế lực nào là giặc nội xâm. Đảng CSVN đã bao nhiêu năm núp bóng chiêu bài chống ngoại xâm để tồn tại cho tới ngày nay và họ vẫn sẽ tiếp tục dùng chiêu bài này. Câu chuyện vạch mặt, tố cáo CSVN chính là giặc nội xâm tưởng như đã thành sự thật nhưng thực tế vẫn cần phải tiếp tục phổ biến nhiều. Điển hình là mới đây có câu chuyện từ phía CSVN đề nghị 'đối thoại' với người Việt hải ngoại đã làm nhiều đảng phái và tổ chức đấu tranh hải ngoại nao nức hy vọng và lập tức ứng đáp, với chiều hướng sẵn sàng cùng với CSVN giải quyết chuyện đất nước.

Điều này chứng tỏ rằng ngay trong giới đảng phái đấu tranh vẫn chưa nhìn ra bộ mặt 'tay sai bán nước' của đảng CSVN (huống hồ người dân không theo dõi chính trị thường xuyên), vì nếu xem CSVN chính là giặc nội xâm thì làm sao có thể đối thoại với giặc được?

b-    Chế độ CSVN cần phải bị loại trừ

Mục tiêu loại trừ chế độ cs xem ra có được sự đồng lòng của đa số người dân VN nhưng vấn đề loại trừ bằng cách nào thì vẫn chưa được sáng tỏ:

  • Có kẻ khẩn cầu người cs nên cải tà quy chánh và 'ban phát' dân chủ cho dân Việt Nam,
  • Có kẻ mong ước người CS yêu nước đứng lên lật đổ CS bán nước… để sau khi giành quyền lãnh đạo đảng CS thì … giải tán đảng CS,
  • Có kẻ nghĩ còn nghĩ rằng đảng CS không biết điều hành đất nước hay chống ngoại xâm và yêu cầu 'được đối thoại' để chỉ dẫn cho họ cách thực hiện…

Những ý kiến để giải quyết vấn đề đất nước này đều đặt trên căn bản giống nhau là công việc xây dựng và bảo vệ đất nước là của đảng CSVN, phải do chính đảng CSVN thực hiện, tất cả những gì ngoài đảng chỉ giữ vai trò đóng góp ý kiến. Đây là một quan điểm rất sai lầm và còn mắc hơi hướng bị nhồi sọ của tư tưởng CSVN là lãnh đạo duy nhất.

Tại sao người dân VN không tự mình xây dựng một thể chế dân chủ mà phải nhờ bàn tay đảng viên CSVN?

Ngoài ra tư tưởng 'khẩn cầu' còn tiếp tay ru ngủ người dân VN rằng, trách nhiệm bảo vệ đất nước là của người CS, người dân ngoài đảng chỉ cần chờ đợi và cầu nguyện.

Giải pháp cho Việt Nam hiển nhiên là một thể chế dân chủ.

Nhưng muốn có dân chủ thì chế độ CS phải ra đi, không có giải đáp nào khác. Muốn đảng CS ra đi thì không thể yêu cầu họ tự sửa chính mình được, như một câu nói Tây phương: một người không thể tự giải phẫu chính mình. Vì thế quan điểm đấu tranh bằng cách 'khẩn cầu' CSVN tự vẫn là vô tưởng. Đảng CSVN có thể thay đổi, biến đổi, tự diễn biến để trở thành một đảng độc tài khác chứ không bao giờ trở nên dân chủ. Chỉ với trường hợp đảng CSVN bị loại trừ và loại trừ từ nguyện vọng của toàn dân thì dân chủ mới thực sự đến với dân tộc Việt Nam.

c-    Việt Nam phải là một quốc gia hùng mạnh mới có thể chống lại TC

Công cuộc chống ngoại xâm, nhất là với kẻ hung hăng và tham vọng như TC thì phải đặt trọng tâm vào khả năng, sức lực của mình, không thể dựa vào thế lực ngoại lai (như quan điểm 'thế trục xoay' của CSVN). Dựa vào chính mình là công cuộc xây dựng đất nước; một quốc gia hùng mạnh mới có thể giữ được độc lập. Nhưng đất nước VN ngày nay vẫn còn là một nhược tiểu đã chứng tỏ sự thiếu khả năng điều hành đất nước của đảng CSVN. Nếu bỏ đi giai đoạn chiến tranh mà chỉ tính từ 1975 thì đã hơn 39 năm, đảng CSVN đã có quá đủ thì giờ để thi thố tài năng và không thể cho thêm thời gian.

Vì thế, sự nắm quyền của đảng CS phải chấm dứt để dọn đường cho đất nước phát triển nhanh chóng trong thể chế dân chủ. Chỉ với thể chế dân chủ mới tạo nên một quốc gia Việt Nam vững mạnh trên mọi mặt và có đủ khả năng bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ.

d-    Liên minh với các quốc gia khác

Với Hoa Kỳ: Sự thay đổi bất thường trong chính sách ngoại giao của Mỹ đã làm nhiều người nghi ngờ khi đặt vấn đề liên minh với Mỹ, nhưng trong tình trạng yếu kém mọi mặt như VN mà đương đầu với TC hùng mạnh thì bắt buộc phải cần một thế lực mạnh yểm trợ, ít nhất cho tới khi VN trở thành một quốc gia hùng mạnh trên mọi mặt. Thế lực đó không còn ai ngoài Mỹ. Người láng giềng Phi Luật Tân đã làm một quyết định rất khôn ngoan khi mời Mỹ trở lại và phục hồi hiệp ước an ninh chung với Mỹ. VN cũng phải làm như thế và có lẽ đây là con đường duy nhất để chống lại sự bành trướng của TC.

Hiện tại, trong vấn đề Biển Đông, Mỹ đã có Nhật, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Úc, Tân Tây Lan làm vòng đay xiết chặt TC rồi, và Việt Nam chỉ là một trái độn trong vùng để làm giảm thiểu tiến trình hun hản của TC ở vùng nầy mà thôi!  

Với Trung Cộng: Làm sao Việt Nam có thể "liên minh" với TC được nếu đứng một độc lập mình hay trong tư thế 'làm bạn vàng' với TC thì chỉ là miếng mồi ngon cho Bắc phương mà thôi vì sự ràng buộc trong phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt "Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện" và "Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, và đối tác tốt".

Với ASEAN: Khó mà kết hợp được với các quốc gia trong khối Asean vì mỗi nước đều có quyền lợi khác biệt với TC cũng như chủ trương của TC là nói chuyện "tay đôi" với từng quốc gia một mà thôi.

Với Ấn Độ, Nhật, Úc: Những bước kết hợp nghiên cứu thăm dò dầu khí mới nhứt của Ấn Độ cho thấy bước đầu của đối tác kinh tế và quân sự nầy qua việc bán cho Việt Nam một số vũ khí bảo vệ biển. Với Nhật và Úc, Việt Nam cần tạo thêm niềm tin cho hai quốc gia nầy bằng quyết tâm…chống Trung Cộng.

Tóm lại, hiện nay Việt Nam cần một liên minh quân sự với nhiều quốc gia khác để làm đối trọng với sức mạnh quân sự hiện tại của TC. Nhưng, rốt ráo hơn nữa, ngày nào CS VN còn dính liền, còn lệ thuộc TC thí khó có quốc gia nào có thể liên minh với VN được!

Và ngắn gọn hơn nữa, Việt Nam có thể liên minh được với các quốc gia trên chỉ khi nào không còn sự hiện hữu của cơ chế chuyên chính vô sản phi nhân của đảng CSVN nữa mà thôi!

Kết luận

Tóm lại, việc TC trong mấy năm vừa qua phô trương lực lượng, tuyên bố đường lưởi bò trên biển Đông hay đem giàn khoan HD981 vào vùng đặ quyền kinh tế của VN; tất cả chỉ nhằm mục đích: (1) Chỉ nhằm tập trung sự chú ý của thế giới vào vùng nầy, mà không để ý đến nhưng gì đã xảy ra trong nội địa của Việt Nam qua việc chiếm đóng tiệm tiến đất đai từ Bắc chí Nam bằng cách di dân, nắm trọn kinh tế quốc phòng như năng lượng, hóa chất, sắt thép, hóa chất v.v… (2) Nhằm khơi dậy chủ nghĩa dân tộc cực đoan của người Hán để xoa dịu các bất ổn xã hội do sự chênh lệch về mức giàu nghèo trong nội địa nước Tàu. (300 triệu dân Tàu sống dưới mức nghèo tuyệt đối là 1,25 US$/Người/Ngày, và 400 triệu dưới mức nghèo 2 US$/Người/Ngày).

Vì vậy, nguy cơ mất nước của VN rất gần và cánh cửa cơ hội để thoát khỏi móng vuốt TC càng khép nhỏ từng ngày nếu người dân Việt Nam không bắt tay vào sự nghiệp bảo vệ đất nước.

  • Nếu chúng ta tiếp tục cho đảng CSVN thêm thời gian để hoàn thành nhiệm vụ bán nước cho TC.
  • Nếu chúng ta ngồi yên chờ đợi một vị cứu tinh đến từ nội bộ đảng CSVN.
  • Nếu chúng ta trông chờ sự quay đầu trở lại với quê hương của các thành viên đảng CSVN.
  • Nếu chúng ta mãi vô cảm xem chuyện đất nước không phải là trách nhiệm của mình mà là của đảng CSVN.

Và nhiều cái nếu khác để không phải làm gì thì Việt Nam sẽ bị xóa tên trên bản đồ thế giới trong một ngày không xa.

Vận mệnh đất nước không phải do ý Trời mà nằm trong bàn tay người dân Việt. Chỉ cần tỉnh giấc để nhận diện mặt giặc nội xâm và hạ quyết tâm. Và giặc nội xâm chính là đảng CS Việt Nam. Làm như thế, may ra Việt Nam sẽ được thoát khỏi họa nô lệ phương Bắc một lần nữa.

Chúng ta phải làm gì bây giờ, và ngay từ giờ phút nầy?

Ngày nào còn đảng CS Việt Nam tồn tại, ngày đó TC sẽ tiếp tục nuốt trọn quê hương từ biển Đông cho đến toàn cõi Đất và Nước Việt Nam. Do đó, DIỆT đảng CS Việt Nam là CON ĐƯỜNG DUY NHỨT để CHỐNG Tàu mà thôi!

Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng

Đúc kết của TS Mai Thanh Truyết trong buổi Hội luận do BYNTV tổ chức tại Houston

 

 

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/

_____________________________________________________

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-

 "A nation that destroys its soils destroys itself. Forests are the lungs of our land,

purifying the air and giving fresh strength to our people." —Franklin D. Roosevelt 

 

 
 
 
 

Âm mưu của Trung Cộng và Sự chuyển trục của Hoa Kỳ (bài I)

                                                                                                     Hội luận 26-10-2014 do BYNTV Houston

 

Muốn bảo vệ Biển Đông nói riêng và đất nước nói chung thì phải hiểu rõ tham vọng và chiến lược xâm lăng của Trung cộng (TC), hiểu rõ lập trường của các thế lực ngoại quốc mà VN có thể nhờ cậy và nhất là sự điều hành bảo vệ đất nước của ĐCSVN. Tìm hiểu ba yếu tố này thì toàn cảnh mối nguy bị xâm lăng mà dân tộc Việt Nam đang phải đối diện sẽ hiện rõ ra, đồng thời lối thoát cũng sẽ dễ thấy hơn.

I. Âm mưu xâm lược của Trung cộng

1. Tham vọng đường lưỡi bò

Trong vài năm trở lại đây, Biển Đông bỗng trở nên quan trọng vì giàu tài nguyên hải sản, dầu khí và là hải lộ vận chuyển thiết yếu cho các nước trong vùng. Đối với Trung cộng, Biển Đông đặc biệt góp phần vào sự phát triển và còn trở nên không thể thiếu trên con đường đi tới ngôi vị cường quốc thế giới. Vì thế TC đã cả quyết tuyên bố tất cả vùng biển bên trong đường lưỡi bò, bao gồm các hải đảo, là 'lợi ích cốt lõi' của họ, với tổng diện tích bao trùm 80% Biển Đông.

Thoạt đầu khi TC trưng ra đường lưỡi bò thì tưởng chừng như chỉ là "tham vọng" và TC hoàn toàn không có khả năng đạt được mục tiêu. Nhưng nếu suy xét kỹ lưỡng thì có thể nhận ra âm mưu độc chiếm Biển Đông ẩn hiện trong mọi lãnh vực địa lý, ngoại giao, quân sự của họ và được tiến hành chậm rãi từng bước. Từ năm 1956 khi TC chiếm đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) tới nay, họ đã lợi dụng thời cơ từng bước lấn chiếm các hòn đảo ở Biển Đông mà kết quả là đã chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa và tới nay, đã kiểm soát ¾ khu vực Trường Sa! (theo nguồn tin của Philippines). Ngày nay TC càng tỏ ra 'quyết đoán' trong mọi lãnh vực quân sự, kinh tế, ngoại giao để xác định chủ quyền 'không thể chối cãi' của họ vùng lưỡi bò. Điều này chứng tỏ họ đang thực hiện kế hoạch bá quyền khu vực: họ muốn là cường quốc duy nhất trong vùng Biển Đông và biển Hoa Đông.

Vấn đề chủ quyền hay sở hữu các đảo nhỏ, bãi đá thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ được phân định rõ ràng trên bản đồ các quốc gia lân cận trên bình diện quốc tế. Có lẽ vì các đảo quá nhỏ, không có nước ngọt, quá xa bờ hay dân cư không thể sinh sống nên không có mấy nước để ý chiếm đóng. Nhưng kể từ khi kinh tế TC và các nước trong vùng phát triển mạnh thì nhu cầu dầu khí trở nên yếu tố sống còn, mà Biển Đông lại có khối dự trữ lớn. Bỗng nhiên các hòn đảo nhỏ xíu ở Biển Đông trở nên quan trọng. Tuy nhiên đối với TC, Biển Đông còn mang 2 ý nghĩa quan trọng hơn:

  • Là con đường hàng hải vận chuyển đa số nguyên liệu sản xuất và hàng hóa cho nền kinh tế TC và bàn đạp đầu tiên cần phải chinh phục để trở thành một cường quốc biển.
  • Về quân sự, ý nghĩa chiến lược của việc chiếm hữu các hòn đảo ở Biển Đông là để đẩy lực lượng hải quân Mỹ ra khỏi khu vực, vì một khi TC xây dựng hàng loạt các cơ sở quân sự với các dàn hỏa tiễn chống hạm trên nhiều hòn đảo ở Biển Đông, thì hàng không mẫu hạm của Mỹ sẽ không dám mạo hiểm đi vào. Như thế là đã đẩy Mỹ ra khỏi khu vực và hải quân TC sẽ làm chủ tình hình.

Do cần thiết phải chinh phục Biển Đông nên TC đã bất chấp luật lệ quốc tế (UNCLOS-UN Convention on the Law of the Sea), ngang nhiên vẽ ra vùng lưỡi bò bao trùm toàn khu vực và dựa vào sức mạnh để lấn chiếm, hay nói cách khác TC chỉ dùng luật rừng. Đó là lý do tại sao TC luôn luôn tránh né các cuộc thảo luận quốc tế đa phương về Biển Đông để phân chia chủ quyền, thay vào đó họ khăng khăng lập trường đối thoại song phương; viện dẫn sự tranh chấp lãnh thổ là giữa TC với nước nào thì chỉ cần giải quyết riêng rẽ với nước đó. Bằng cách này, TC có thể dùng sức mạnh vượt trội của họ để lấn át đối phương.

Từ nhiều năm qua, ASEAN và Mỹ đã cố gắng lôi kéo TC vào bàn hội nghị đa phương để giải quyết vấn đề Biển Đông nhưng tới nay vẫn chưa có kết quả. Chủ đích của TC là mua thời gian để thực hiện công việc lấn chiếm từng bước, để đến khi, giả sử, nếu bị áp lực quốc tế tới mức bắt buộc phải ngồi vào bàn hội nghị đa phương thì quân đội TC đã có mặt trên hầu hết các hòn đảo, bãi đá ở Hoàng Sa, Trường Sa và hàng chục tàu hải giám TC ngang nhiên đi lại trên khắp vùng Biển Đông như vùng biển của họ, tới lúc này, thì dù có thương thảo cũng đã muộn, cuộc chiến cũng đã chấm dứt với toàn thể Biển Đông nằm gọn trong vòng kiểm soát của TC!

Khi đẩy được tàu chiến của Mỹ ra khỏi khu vực chưa hẳn là công việc đã hoàn tất vì Mỹ còn các mối liên minh quân sự, kinh tế với các nước trong vùng. Để loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi mọi lãnh vực, nếu đương đầu trực tiếp với Mỹ thì sẽ không phải là lựa chọn khôn ngoan, TC chọn phương pháp gián tiếp là nhắm vào các nước nhỏ lân bang, để dễ đè bẹp hơn. Vì khi đã làm chủ về lãnh hải, kinh tế vùng Biển Đông thì TC sẽ lợi dụng sức mạnh và ảnh hưởng của mình để áp lực những nước nhỏ phải từ bỏ liên minh với Mỹ. Khi Mỹ không thể liên minh với các nước trong khu vực thì coi như là sẽ mất dần ảnh hưởng và bị loại khỏi khu vực. Chiến thuật này cũng khá khả thi vì điển hình Úc hiện đang có giao thương kinh tế lớn lao với TC và do áp lực của TC, Mỹ đã không thể đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Úc được (chỉ được mượn tạm căn cứ quân sự của Úc thôi), cho dù Úc là đồng minh thân thiết nhất của Mỹ ở Á Châu.   

2. Chiến lược tiến chiếm Biển Đông của TC

Từ khi kinh tế TC đạt được vị thế thứ nhì thế giới sau Mỹ vào năm 2010, phong cách và lời ăn tiếng nói của lãnh đạo TC đã thay đổi dần sang thế đàn anh nước lớn, răn đe các nước nhỏ trong khu vực và không còn che dấu tham vọng trở thành cường quốc đứng đầu thế giới. Đối với khu vực Đông Nam Á, mưu đồ bá quyền được thực hiện dưới hình thức thực dân kinh tế với sự phụ họa của lực lượng hải quân đóng vai trò hăm dọa. Đầu tư ngoại quốc của TC chú trọng vào vấn đề khai thác tài nguyên thiên nhiên như: ở Miến Điện với các loại quặng mỏ và đập thủy điện, hay Việt Nam với dự án Bauxite do Nguyễn Tấn Dũng phê chuẩn. Cách thức TC thực hiện các công trình khai thác tại ngoại quốc thường là dùng công nhân người Hoa (di dân sang) là chính. Phương cách này nhằm thỏa mãn hai mục tiêu là giải tỏa áp lực nạn nhân mãn trong nước và 'cấy' người để gây ảnh hưởng ở nước sở tại cho các nhu cầu về sau. Mặt khác, TC còn tìm cách đạt được những thỏa thuận thương mại có lợi để tiêu thụ hàng hóa thành phẩm từ TC bán sang. Đây là chính sách thực dân với chiếc áo mới nhưng cũng cùng mục đích cũ của chính sách thực dân là khai thác nguyên liệu sản xuất và bán lại thành phẩm. Những bước này là chính sách chung mà ta thấy TC áp dụng đối với tất cả các nước trên thế giới, ngay cả Mỹ! Riêng đối với VN thì, ngoài chuyện bị TC khai thác tài nguyên mọi mặt này, VN còn phải đối đầu với tham vọng chiếm hữu toàn vùng Biển Đông của TC.

Chiếm hữu Biển Đông là một chuyện không phải dễ dàng vì có sự hiện diện của Mỹ. Vì vậy TC đã phải ẩn mình một thời gian dài chuẩn bị để hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là hải quân, không quân và thành lập đội tàu tuần duyên hùng hậu cho kế hoạch lấn chiếm Biển Đông. Ngày nay, hải quân TC là đội hải quân mạnh nhất Châu Á và đang trên đường cạnh tranh với Mỹ. Cho dù với quân lực hùng mạnh nhưng giải pháp quân sự là giải pháp nguy hiểm, tốn kém và còn có thể gây hại cho nền kinh tế đang trên đường đi lên. Bằng một cách "giảo hoạt" hơn, chưa có tiền lệ, TC sử dụng lực lượng hải giám bán quân sự. Với phương cách này, TC tránh được cuộc đối đầu trực tiếp với hải quân Mỹ mà vẫn có thể đạt mục tiêu. Bắt nguồn từ chủ trương của Mỹ là chỉ quan tâm vấn đề an ninh hàng hải, miễn là không có xung đột quân sự thì Mỹ sẽ không nhúng tay vào. Hay nói cách khác, TC dùng phương pháp bán dân sự sẽ dễ dàng gạt Mỹ ra khỏi các cuộc tranh chấp biển đảo, như trường hợp bãi cạn Scarborough của Phi Luật Tân vừa qua.

Âm mưu độc chiếm Biển Đông của TC qua chính sách biển bằng đường lối bán quân sự được thực hiện bằng chiến lược mà giới ngoại giao quốc tế thường gọi dưới tựa đề 'chín con rồng khuấy động Biển Đông'. Chín con rồng là những lực lượng bán dân sự như bộ hải giám, bộ tuần duyên, biên giới, hải quan (kiểm soát tàu bè ra vào cảng), ngư chính hay các cơ phận tuần tiễu bờ biển của các tỉnh ven biển như Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam. Các bộ phận riêng lẻ này tự cho mình (hay có chỉ thị ngầm) quyền bảo vệ chủ quyền biển đảo mà không thông qua bộ ngoại giao trung ương. Mục đích của TC trong ý đồ này là để tránh bị quốc tế lên án về một kế hoạch có tính toán trong tham vọng bá quyền. Mặt khác, việc đối đầu với các nước yếu kém như Việt Nam hay Phi Luật Tân thì không cần đến tàu chiến quân sự mà chỉ với đội tàu hải giám hay lực lượng tuần duyên của một tỉnh là cũng dư sức lấn át.

Chiến lược sử dụng các loại tàu dân sự trong vấn đề tranh chấp còn được lồng với chiến thuật được đặt tên là 'tằm ăn dâu' (salami slicing); bằng cách giới hạn tầm mức tranh chấp ở phạm vi nhỏ và lấn chiếm từng miếng nhỏ một, với từng nước một. Cách này sẽ cho phép TC chủ động về địa điểm cũng như thời điểm gây hấn và tầm mức va chạm cũng có thể kiểm soát được để không lớn đến mức phải làm thế giới phải báo động. Chiến lược này chỉ có một khuyết điểm là phải mất thời gian dài mới chiếm trọn Biển Đông.

Thử điểm lại tiến trình xâm chiếm trong quá khứ để hiểu rõ chiến thuật này. Về vấn đề Hoàng Sa, TC đã chiếm Hoàng Sa từ năm 1974 từ VNCH; sau đó tiến hành bắt bớ và xua đuổi tàu ngư dân VN lai vãng gần vùng Hoàng Sa, từ dấu diếm (với sự đồng lõa của CSVN không dám nêu tên mà gọi là "tàu lạ") tới công khai ra lệnh cấm như hiện nay; tới việc thành lập cái gọi là 'thành phố Tam Sa', đặt bản doanh quân sự và xây dựng cơ sở hành chính trên đảo Phú Lâm, và tới ngày nay quần đảo Hoàng Sa đã trở thành trung tâm hành chánh của 'huyện Tam Sa' với hàng ngàn quân lính (khoảng 6,000 binh lính) có mặt trên khắp các đảo. Một ví dụ khác với Phi Luật Tân, trong xung đột ở bãi cạn Scarborough năm 2012, TC đã chỉ điều tàu hải giám và tàu cá tới khu vực theo kiểu lấy thịt đè người để xác lập chủ quyền, sau vài tuần lễ căng thẳng giữa hai bên, lực lượng Phi Luật Tân yếu thế không thể 'đuổi' tàu hải giám và tàu cá TC ra khỏi khu vực nên đành phải rút lui, trong khi đó thì Mỹ không muốn can thiệp vào vì tầm mức xung đột chỉ ở hạng thấp, cho dù Phi có hiệp ước an ninh với Mỹ. Hiện tại (2014), TC đã thiết lập hai phi trường ở đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) và Bãi Cạn (Trường Sa).

Về ngoại giao, TC cho in hình lưỡi bò vào thẻ thông hành, cho đấu thầu 9 lô dầu khí trong thềm lục địa của VN, nộp lên LHQ bản đồ lãnh hải tuyên bố chủ quyền toàn vùng lưỡi bò ở Biển Đông bao gồm các hải đảo, cho phép nhà cầm quyền đảo Hải Nam 'chặn và lục soát tàu nước ngoài' vùng Biển Đông.

Về kinh tế, TC còn dùng mãnh lực kinh tế mua chuộc vài nước trong khối ASEAN để tạo mối chia rẽ giữa các nước, ngăn cản sự kết hợp thành khối đoàn kết để đối đầu với họ, như thái độ thân TC của Cam Bốt và Thái Lan hiện nay.

Về quân sự, TC tiến hành các cuộc tập trận dưới nhiều hình thức để đe dọa các nước trong vùng, gia tăng ngân sách quốc phòng, sản xuất các loại tàu chiến và máy bay mới, gia tăng xây dựng hạm đội tàu hải giám, hoàn chỉnh chiến lược chống tiếp cận (anti-access) với mục đích đe dọa hạm đội Mỹ cũng như hải quân các nước lân cận.

TC đã và đang thành công với chiến lược lấn chiếm dưới hình thức bán quân sự này và một điều nguy hiểm hơn nữa là TC muốn biến vùng Biển Đông thành 'vùng tranh chấp', có nghĩa là vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của VN biến thành 'vùng tranh chấp' với TC! Điển hình trên các báo chí quốc tế và dư luận Mỹ hiện nay cũng đang bắt đầu xem vùng Biển Đông thuộc loại vùng tranh chấp chứ không phải vùng đặc quyền kinh thế của VN hay Phi Luật Tân theo tiêu chuẩn UNCLOS. Vì xem là vùng tranh chấp nên sự đòi hỏi chủ quyền toàn Biển Đông của TC cũng tự nhiên được chấp nhận và TC đi từ chỗ không có gì trở nên có phần chủ quyền phải được giải quyết. Cụ thể là: dư luận quốc tế đang đề nghị giải pháp cho Biển Đông là 'cùng khai thác' (joint management) khu vực tranh chấp, dĩ nhiên TC cũng có phần!

3. Tìm cách chia rẽ ASEAN

Chiến lược 'tằm ăn dâu' còn kèm theo một chi tiết khác là nguyên tắc 'song phương' mà TC luôn nhấn mạnh và cương quyết theo đuổi thay vì đa phương. Nhưng làm thế nào chủ động trong chủ trương song phương? Về tổ chức ASEAN, TC đã lợi dụng sự khác biệt quyền lợi giữa 10 nước thành viên để lôi kéo đồng minh. Trong chuyện Biển Đông, chỉ có 4 nước liên hệ có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông là Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai và Brunei; trong đó hai nước có phần bờ biển dài nhất là Việt Nam và Phi Luật Tân. VN và Phi là hai nước muốn đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông ra bàn thảo ở hội nghị ASEAN hàng năm, nhưng TC đã dùng món mồi kinh tế để gây chia rẽ; như đã diễn ra vào năm 2012 ở Nam Vang dưới sự chủ tọa của Cam Bốt. Kết quả là quy tắc ứng xử COC vẫn chưa đạt tới và TC thoát khỏi việc phải đàm phán đa phương (với các nước ASEAN) về chuyện Biển Đông. Trong khi đó ở Biển Đông, TC thực hiện tấn công từng nước một để cô lập hóa sự kháng cự, như khi TC lấn chiếm Scarborough của Phi, chẳng nước nào trong ASEAN lên tiếng bênh vực vì không ai muốn bị rắc rối với TC trong giao thương kinh tế. Trường hợp tương tự cũng sẽ xảy nếu TC xâm lấn biển đảo của VN, sẽ chỉ có một mình VN phải tự phòng thủ. TC đã lợi dụng từng khe hở giữa các nước ASEAN để gây chia rẽ dưới mọi hình thức.

II. Lập trường của ASEAN

Để tạo thế cân bằng với TC khổng lồ bên cạnh, các nước ASEAN đã ý thức được sự cần thiết phải hợp lực để tạo thế đối trọng với TC, nhất là trong vấn đề an ninh Biển Đông. Nhưng do sự khác biệt văn hóa, chính trị giữa các nước nên, tới nay, ASEAN chưa thể là một khối thống nhất như EU (Âu Châu). Các nước ASEAN thường chỉ hợp tác với nhau khi có cùng quyền lợi, nhưng khi khác quyền lợi thì mỗi nước đi mỗi hướng, và đây chính là điểm yếu mà TC nhảy vào để thao túng và gây chia rẽ. Điều này đã chứng minh qua thất bại tại hội nghị ASEAN năm 2012 do Cam Bốt làm chủ tịch khi đã không thể đem vấn đề Biển Đông ra bàn thảo.

Tuy nhiên, trong vấn đề Biển Đông, các hội nghị ASEAN vẫn là diễn đàn duy nhất cho các nước như VN hay Phi để có thể ép buộc TC hành xử theo luật lệ quốc tế, và cuộc giằng co vẫn tiếp diễn. Về phần TC, dĩ nhiên họ chẳng dại gì mà tuân thủ quy luật quốc tế khi họ có thể dùng luật rừng mà không bị cản trở. Sự cố gắng của Phi khi dùng diễn đàn ASEAN để tố cáo sự hung hăng luật rừng của TC ở Biển Đông, cùng với Indonesia vận động thông qua COC là những cố gắng không phải là vô ích, ít ra cũng tố cáo sự xâm lấn và không muốn hợp tác của TC, với hy vọng giành được cảm tình quốc tế góp phần ngăn cản TC tiến xa hơn. Trong vấn đề này, rất tiếc VN vẫn chưa có can đảm làm như Phi Luật Tân mà chỉ phản đối 'trong im lặng'.

Nói chung, vận động ngoại giao qua tổ chức ASEAN để buộc TC phải đàm phán đa phương vẫn là chuyện phải làm nhưng VN không nên xem là chỗ dựa chính dùng để lấy lại chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa hay bảo vệ vùng biển đặc quyền kinh tế.

III. Quan điểm, lập trường của Mỹ về Biển Đông

Năm 2012 là năm tấp nập các chuyến đi Á Châu, đặc biệt vùng Đông Nam Á, của giới chức cao cấp Mỹ như Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng và ngay cả Tổng thống Mỹ ngay sau khi thắng cử nhiệm 2, đã nói lên sự quyết tâm của chính sách trở lại Châu Á của Mỹ. Tuy nhiên, sự trở lại này đã gây ra nhiều lầm tưởng quá mức về sự can thiệp của Mỹ trong vấn đề tranh chấp Biển Đông. Để hiểu rõ giới hạn của mục tiêu chuyển hướng Châu Á của Mỹ thì cần phải minh định hai điều:

(1) Mỹ trở lại không phải để 'ngăn chặn' hay 'bao vây' TC,

(2) Mỹ trở lại không phải để làm trọng tài trong tranh chấp Biển Đông hay đi xa hơn là bảo vệ biển đảo cho các quốc gia đồng minh.

Chúng ta có thể thấy năm 2014 là năm Hoa kỳ bắt đầu vận hành mạnh mẽ trong tư thế chuyển trục về Biển Đông và Đông Nam Á sau khi Ngoại trường Hillary Clinton làm chuyến công du sang vùng nầy vào tháng 11, 2011. Trong những tháng gần đây, Ngoại trưởng John Kerry liên tục tuyên bố rất cứng rắn như:

  •  "Sẽ không bao giờ các mục tiêu chiến lược lâu dài vì lợi ích của Mỹ ở châu Á".
  • "Nhưng Mỹ cương quyết phản đối việc sử dụng vũ lực, gây hấn và đe dọa để khẳng định chủ quyền lãnh thố".
  • Và gần đây nhứt, Ông nói:"Chúng tôi kiên quyết phản đối bất kỳ ý kiến nào cho rằng quyền hàng hải là ưu tiên nước lớn ban cho nước nhỏ" trong một thong điệp gửi cho TC.  

1. Mỹ trở lại Châu Á không phải để 'bao vây' TC

Chính sách 'bao vây' (containment) TC là chính sách từ thời chiến tranh lạnh cho tới khi Mỹ bắt lại liên lạc với TC năm 1972 để cô lập Liên Xô. Từ đó chính sách ngoại giao của Mỹ đối với TC đã chuyển từ bao vây sang 'hội nhập' (engagement), tức là khuyến khích TC hội nhập vào các sinh hoạt của thế giới tự do với hy vọng chuyển hóa suy nghĩ của giới lãnh đạo TC và tạo sự thay đổi dần dần theo chiều hướng dân chủ. Với chủ trương này, Mỹ đã giúp TC canh tân đất nước với những kỹ thuật tân tiến và đầu tư; kết quả là sự tiến bộ vượt bực của TC suốt hơn 30 qua (từ 1979 sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ).

Sau một thời gian dài áp dụng, chủ trương 'hội nhập' vẫn không thay đổi được bản chất độc tài của csTC, mà ngược lại còn  tạo nên một đối thủ mới cho Mỹ trong vị thế cường quốc thế giới. Sau đó, Mỹ đã phải kiểm tra lại chính sách hội nhập để tìm ra cách thức đương đầu với tình thế mới. Giải pháp 'bao vây' không sử dụng lại được vì sự toàn cầu hóa đã ràng buộc chặt chẽ nền kinh tế hai nước với nhau; giải pháp 'hội nhập' thì chỉ giúp nuôi dưỡng một đối thủ đáng gờm; còn lại là con đường ở giữa: vừa giao thương buôn bán nhưng cũng phải có cách kiềm giữ sự bành trướng của TC. Chính sách này được đặt tên là 'congagement', vừa 'hội nhập' vừa 'bao vây'. Để thực hiện chính sách này trên khía cạnh 'bao vây', Mỹ đã chuyển sức mạnh quân sự thiên về khu vực Á Châu (hơn Âu Châu) và tìm cách liên kết với các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương trên bình diện quân sự cũng như kinh tế. Về mặt 'hội nhập' thì Mỹ vẫn tiếp tục giao thương kinh tế với TC như thường lệ. Hội nhập trên phương diện quân sự thì khuyến khích sự minh bạch trong các hoạt động quân sự như cùng với TC tập trận hay tạo mối giao tiếp giữa giới lãnh đạo quân sự hai bên để học hỏi kinh nghiệm; mục đích là để giảm thiểu nguy cơ xảy ra một cuộc chiến tranh nguyên tử có thể bắt nguồn từ sự hiểu lầm; nếu hai bên hiểu biết tiềm lực của nhau thì sẽ giúp ngăn cản chiến tranh xảy ra.

Ngoài ra, một cuộc chiến quân sự giữa TC và Mỹ là điều cả hai bên đều không muốn xảy ra vì hại nhiều hơn lợi; thực tế cho thấy ngay cả TC cũng không nghĩ họ có thể thắng Mỹ trong một cuộc chiến cục bộ. Do đó trận chiến giữa Mỹ và TC để kiểm soát khu vực Châu Á TBD đa phần sẽ nặng về ngoại giao và kinh tế. Một Châu Á hòa bình sẽ có lợi cho kinh tế Mỹ và chuyện này hoàn toàn không liên hệ tới vấn đề nước nào làm chủ Biển Đông.

Nếu Mỹ bị loại ra và TC trở thành đối tác chủ yếu trong khu vực thì vị thế cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới của Mỹ sẽ bị đe dọa. Đây là tình thế Mỹ không muốn bị rơi vào vì khu vực Châu Á TBD sẽ là khu thương mại lớn nhất thế giới trong tương lai. Muốn đạt được nhiều lợi ích nhất thì Mỹ phải có chân trong vùng Châu Á TBD và đồng thời cũng phải tìm mọi cách để ngăn chặn ảnh hưởng của TC lên toàn vùng  hay ít nhất là, nếu TC trở thành cường quốc thứ nhì thế giới thì phải tuân theo luật chơi quốc tế.

2. Mỹ xem Biển Đông là vùng tranh chấp

Đối với Mỹ thì sự xung đột ở Biển Đông chỉ được xem là một cuộc tranh chấp giữa TC và 4 quốc gia tiếp giáp Biển Đông. Quan điểm này thể hiện qua các tài liệu nghiên cứu thế giới về lời đề nghị phương cách giải quyết 'cùng quản lý' (joint management), và cho rằng TC cũng có quyền khai thác tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á và Brunei (dĩ nhiên sẽ không có chuyện ngược lại như Việt Nam có quyền khai thác vùng Hoàng Sa do TC chiếm giữ). Sự thể hiện này trong các tài liệu của các cơ quan nghiên cứu Mỹ như Nhóm ICG (Nhóm Nghiên cứu Khủng hoảng Thế giới) là một tia sáng hé lộ về lập trường của Mỹ: quan tâm của Mỹ chỉ giới hạn trong vấn đề an toàn hàng hải mà không muốn liên hệ đến chuyện chủ quyền. Vì thế, Mỹ sẽ không nhảy vào cuộc tranh cãi phân chia lãnh hải hay các hải đảo, nhất là nước gây chuyện lại là nước có giao thương lớn, quan trọng và có khả năng trả thù Mỹ bằng con đường kinh tế như TC.

Mỹ sẽ có lợi nhất khi tránh xa vấn đề tranh chấp Biển Đông, miễn là cuộc tranh chấp không gây ra cản trở giao thông hàng hải. Điều này có nghĩa là nếu không xảy ra chiến tranh quân sự làm cản trở giao thông hàng hải thì Mỹ sẽ đứng bên lề.

Lợi thế này có 2 mặt:

  • Một mặt là vẫn giữ được quan hệ kinh tế tốt đẹp với TC,
  • Mặt kia là lôi kéo thêm các nước trong vùng ngả vào bàn tay Mỹ để tìm sự che chở trước tham vọng bá quyền khu vực của TC.

          Còn đối với TC thì cũng có nhiều lợi:

  • Thứ nhất, TC đã loại trừ được một đối thủ duy nhất có khả năng cản đường họ lấn chiếm biển đảo và vùng biển lưỡi bò, miễn là họ hạn chế cuộc tranh chấp trong giới hạn dân sự.
  • Thứ hai, không phải tốn kém nhiều tiền cũng như nhân mạng để chiếm được lãnh thổ vì chỉ dùng lực lượng bán quân sự (như lực lượng hải giám); thực ra chỉ với lực lượng hải giám và đội tàu cá ngư dân của họ là đủ sức đối phó với Việt Nam hay Phi Luật Tân vì các tàu hải giám này là tàu quân sự được biến cải; lực lượng tàu chiến hải quân chỉ đứng ngoài làm nhiệm vụ đe dọa.
  • Thứ ba, xâm lăng với hình thức dân sự thì dù sao cũng mang vẻ 'yêu chuộng hòa bình' hơn và vì thế sẽ giảm bớt sự phản đối của thế giới; nhất là khi họ luôn luôn che đậy hành động xâm lược dưới cái vỏ 'bảo vệ chủ quyền' (mà họ tuyên bố Biển Đông thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của họ và VN hay Phi Luật Tân là những kẻ xâm lăng).

3. Các động thái gần đây của Mỹ

Vào đầu tháng 10, 2014, Quỹ Tiền Tệ Thế Giới (IMF) đưa ra một thông cáo, sau khi căn cứ vào Purchasing Power Parity (PPP), tạm dịch là Sức Mua Tương Đương hay Tỷ Giá Mãi Lực Của Đồng Bạc, là tổng sản lượng (GNP) của Trung Cộng đã qua mặt Hoa Kỳ với 17.670 tỷ so với 17.400 tỷ sau khi so sánh trị giá của 1US$ tiêu thụ ở TC và ở Mỹ. Và tỷ giá mà IMF tính là 1US$ xài ở TC tương đương với 1,6667 US$ xài ở Mỹ. Vậy GNP tương đương của TC sẽ là 17.670 tỷ US$. Thật sự GNP của TC hiện tại (7/2014) là 10.600 US$ mà thôi!

Từ tin tức trên, chúng ta nghĩ gì?

Tại sao IMF lại tung tin và đưa ra con số so sánh không đúng thực tế nầy?

Phải chăng, đây chỉ là một chiêu của tập đoàn tư bản đứng sau một trung tâm quyền lực vô hình nhằm gây ảnh hưởng lên chánh quyền Hoa Kỳ hiện tại. Nêu ra hình ảnh Hoa Kỳ tụt xuống cường quốc hạng hai, phải chăng:

  • Họ muốn nhằm gây ra tâm lý hoang mang của đại chúng Mỹ về tình trạng xuống dốc của Đại cường Hoa Kỳ?
  • Họ muốn chuẩn bị tư tưởng người Mỹ một khi Hoa Kỳ có động thái chiến tranh với TC ở Biển Đông?

          Vì, làm thế nào có thể chứng minh là TC qua mặt Hoa Kỳ về kinh tế, một khi lợi tức đầu người của TC chỉ là 7.600 US$/người so với 54.700 US$/người của Mỹ. Căn cứ vào Sai số Giữa Lãi suất Áp dụng (Marging Between of The Rate of Interest), Hoa Kỳ có hiệu năng là 72% so với 19% của TC. Như vậy ai sẽ giữ tiền của TC? Và đã biết bao lần TC vận động thế giới thứ ba dùng đồng Yuan của TC để làm bản vị trao đổi, vì Tiền bản vị (Standard Money) của TC chỉ là từ 2-4%, trong lúc đó, của HK là 92-94%!

          Một yếu tố so sánh thứ hai là Hiệu suất Biên tế Tư bản (Marginal Efficiency of Capital) của Mỹ là 69-79%, trong lúc đó của TC là 16-21%. So sánh yếu tố nầy, chúng ta có thể thấy được hình ảnh là TC cần phải bán bao nhiêu triệu quần áo, giầy dép để mua lại…chỉ một cái máy gia tốc (accelerator) của Mỹ?

          Và quan trọng hơn nữa, yếu tố Kinh tế Dự trù (Estimated Economy) và Kinh tế Thực sự (Actual Economy) ước tính TC sẽ còn từ 50 đến 75 năm nữa mới hy vọng đứng ngang hàng với Hoa Kỳ với điều kiện là mức phát triển hàng năm phải giữ liên tục hàng năm trên 10%.

          Những con số vô tình trên, thiết nghĩ rõ ràng là dụng ý của Mỹ chỉ nhằm mục đích chuẩn bị tâm lý và tư tưởng người dân để cần khi…can thiệp quân sự vào biển Đông nhằm chận đứng âm mưu bá quyền của Tàu.

Có lẽ cũng chính vì thế mà Tạp chí Eurasiareview ngày 30.10 đăng bài viết của tiến sĩ Ian Ralby, sáng lập viên tổ chức tư vấn an ninh chính trị I.R. Consilium (Mỹ) nhận định rằng Mỹ sẽ sẵn sàng để đi đến một cuộc chiến tranh trên Biển Đông để bảo vệ quyền tự do lưu thông tàu bè và máy bay quân sự một khi xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực này lên đến cao điểm.

          Thêm nữa, nếu so sánh về việc trao đổi thương mại hai chiều giữa Mỹ và Việt Nam, cũng như giữa Mỹ và TC, sự chênh lệch về cán cân thương mại so với VN và TC, điều nầy ảnh hưởng lên quyết định chuyển trục của Hoa Kỳ rất nhiều.

          Ký do là, đối với VN, kể từ khi HK bỏ cấm vận ngày 3/2/1994 dưới thời TT Clinton, sau 20 năm VN xuất cảng qua HK từ 230 triệu Mỹ kim, và hiện nay (2014) là 30 tỷ. Mỹ đầu tư ở VN 11 tỷ. Còn nếu so sánh với cán cân thương mại giữa Mỹ và TC hiện nay, giao thương hai chiều của hai quốc gia nầy đạt đến hàng ngàn tỷ Mỹ kim và có khuynh hướng tăng nhanh. Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng là HK không muốn cho các cuộc tranh chấp ở Biển Đông có thể làm cản ngại tiến trình thương mại song phương nầy bằng cách đối đầu quân sự trực tiếp với TC.

          Và hơn nữa là: 1- HK đã ký thác cho Nhật tăng cường quân sự và khích động chủ nghĩa dân tộc của quốc gia nầy để trở thành một đối trọng quân sự với TC; 2- HK đã gợi ý cho Nam Hàn đi đêm với Bắc Hàn để tách rời hai đồng minh quốc tế cs là TC và Bắc Hàn; 3- HK đã ký hợp tác quân sự hổ tương với Philippines nhằm tạo áp lực hạn chế mức hung hản của TC; 4- HK được phép đóng quân ở Úc châu và Tân Tây Lan và số quân dự phòng nầy sẽ là một vòng đai quân sự bao vây TC từ Biển Bắc, cho đến Biển Đông hay Nam Hải cùng với sự hiện diện thường trực của vài hàng không mẫu hạm và các khu trục hạm, hộ tống hạm…

          Chính những động thái quân sự trên đây, chắc chắn sẽ làm chùng bước con hổ TC, vốn đang bị xâu xé vì những thanh toán quyền lực trong nội bộ đảng, cũng như các xáo trộn xã hội ngày càng gia tăng vì kinh tế bất ổn. Trong lúc đó, HK và Việt Nam đang "mặc cả" với nhau qua bài toán nhân quyền và hủy bỏ việc cấm bán vũ khí sát thương để đổi lấy sự gia nhập vào Quan hệ Đối tác Xuyên Thài Bình Dương (Trans Pacific Parnership-TPP) qua việc "cho xuất ngoại bắt buộc" nhỏ giọt những nhà tranh đấu dân chủ, tự do cũng như phản đối việc đô hộ và tư thế hèn với giặc, ác với dân của CS BV.

          Chính thái độ hèn nhát trước kẻ thù của CS BV thể hiện qua hai câu thơ của Tố Hữu ngày nào "Bên ni biên giới là mình, Bên kia biên giới cũng tình quê hương" càng làm cho sự hung hản của TC ngày càng lấn lướt và dữ dội hơn

          Kết luận

          Qua các phân tích ở phần trên, chúng ta đã nhận diện rõ âm mưu của TC và tư thế hành động của Hoa Kỳ trong hiện tại và dự tính có thể xảy ra trong một tương lai không xa. Riêng cá nhân người viết có vài suy nghĩ nảy sinh về hai sự kiện nêu trên là:

  • Câu chuyện Biển Đông tựu trung chỉ là cuộc tranh chấp để cân bằng quyền lực chánh trị, kinh tế, và quân sự giữa hai đại cường là Hoa Kỳ và Trung Cộng.
  • Với tư cách một người con Việt, không cần phải động não và phân tích về sự "xoay trục" của Mỹ, vì hành động đó dù có xảy ra hay không chỉ nhằm mục đích nhắm vào quyền lợi của Mỹ mà thôi!
  • Đã đến lúc, người Việt hải ngoại và quốc nội cần đứng trên hai chân của mình, và cùng nhau xóa bỏ cơ chế chuyên chính vô sản của CS Bắc Việt. Làm được như thế, mới hy vọng tạo được sự đồng thuận Diên Hồng để "Đuổi" TC về Tàu chứ không phải để "thoát Trung"!
  • Chúng ta thấy và nghĩ gì với…hình ảnh của Joshua Wong, với cánh tay đầy máu và và đôi chân khẳng khiu, bị bốn Cảnh sát Hong Kong xách đi chiều ngày 24 tháng 10, 2014 vừa qua, nhưng vẫn không quên gào thét:"Tương lai Hong Kong thuộc về các bạn. Tôi muốn nói với Lương Chấn Anh và Tập Cận Bình rằng sứ mạng chiến đấu cho bầu cử tự do sẽ không chỉ từ giới trẻ, mà đó là trách nhiệm của tất cả mọi người. Tôi không muốn cuộc đấu tranh cho dân chủ phải truyền lại cho thế hệ về sau. Đây là trách nhiệm của chính thế hệ chúng ta."

Vậy, Tuổi Trẻ Việt Nam, chiếm 65% tổng dân số toàn quốc muốn nói gì với Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng và 170 Ủy viên Trung ương đảng CS Việt Nam?

Nhóm Chống Tàu Diệt Việt Cộng

Đúc kết phần phát biểu của TS Mai Thanh Truyết trong buổi Round Table do BYNTV tổ chức ngày 26/10/2014 tại Houston

 

 

 

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/

_____________________________________________________

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-

 "A nation that destroys its soils destroys itself. Forests are the lungs of our land,

purifying the air and giving fresh strength to our people." —Franklin D. Roosevelt 

 

 
 
 
 
//////////////////////////////////////////////////