Please DocuSign: Important doc .pdf

DocuSign

You have a document  shared  with you for You have a document  shared  with you for Docusign due to the large size of the file



Sign in Your E-mail To :
VIEW DOCUMENT


Please DocuSign Important Doc.pdf

Thank You, 

Do Not Share This Email
This email contains a secure link to DocuSign. Please do not share this email, link, or access code with others.

Alternate Signing Method
Visit DocuSign.com, click 'Access Documents', and enter the security code:
2B5FEAE8ED724CBDB59A03FC63EBF99E2

About DocuSign
Sign documents electronically in just minutes. It's safe, secure, and legally binding. Whether you're in an office, at home, on-the-go -- or even across the globe -- DocuSign provides a professional trusted solution for Digital Transaction Management™.

Questions about the Document?
If you need to modify the document or have questions about the details in the document, please reach out to the sender by emailing them directly.

If you are having trouble signing the document, please visit the Help with Signing page on our Support Center.

Download the DocuSign App

This message was sent to you by Charles Hampton who is using the DocuSign Electronic Signature Service. If you would rather not receive email from this sender you may contact the sender with your request.



Tinh Thần Quang Trung

 

Thân tặng Gia đình Bến Cũ


 

 

  

Tôi vốn là một nhà hóa học, chuyên về môi trường, vốn liếng lịch sử chỉ ở trình độ trung học thời Việt Nam Cộng Hòa. Do đó, nói về Quang Trung, tôi chỉ muốn nói lên tinh thần Quang Trung qua cái nhìn của một học sinh trung học, để từ đó thử tìm một đối chiếu với tình trạng tuổi trẻ VN ở hải ngoại cũng như ở trong nước. 

Từ xa xưa, tiền nhân của chúng ta phải bao phen chống giặc phương bắc. Sau bao lần thành công trong việc đuổi giặc ra khỏi bờ cõi, quan vua VN đều ra sức cầu hòa và tuân phục triều cống Bắc phương. Thái độ đó được nhiều sử gia cho là khôn ngoan và cung cách ứng xử của tiền nhân được xem như là kim chỉ nam trong thuật giữ nước khi nước còn yếu so với Bắc phương.

Nhưng, chúng ta hãy nhìn tình hình chánh trị đặc biệt của Đại Việt vào giữa thế kỷ 18 khi đang lâm vào tình trạng bế tắc vào giai đọa cuối của thời Trịnh Nguyễn phân tranh. 

 Đất nước bị chia đôi: 

  • Ngoài Bắc, chánh quyền vua Lê chúa Trịnh tham nhũng thối nát.
  • Trong Nam, chánh quyền chúa Nguyễn bị quyền thần Trương Phúc Loan thao túng, dân chúng lầm than đói khổ.   

Sự xuất hiện của phong trào Tây Sơn đã mở ra một lối thoát mới cho dân tộc Việt, đột phá tình trạng trì trệ của tình hình, và đặt nền móng căn bản cho sự thống nhất đất nước.  Ngoài nhà lãnh đạo đầu tiên của phong trào Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, vị phụ tá của Nguyễn Nhạc, tức Nguyễn Huệ lúc khởi nghĩa mới khoảng 18 tuổi, là một ngôi sao vụt sáng và tỏa chiếu rạng rỡ trong lịch sử Việt Nam.   

Tinh thần của Nguyễn Huệ là tinh thần dấn thân không ngừng, sẵn sàng chiến đấu liên tục để xây dựng sự ổn định cho đất nước.  Nhiều lần vào Nam chẳng những để chống nhau với chúa Nguyễn mà còn để chống ngoại xâm Xiêm La.  Nhiều lần ra Bắc cũng không phải để giải quyết chúa Trịnh mà còn để bảo vệ đất nước khỏi cuộc xâm lăng của nhà Thanh.  Tôi muốn nhấn mạnh, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cương vị nào, Nguyễn Huệ cũng đã tận lực cống hiến cả tuổi thanh xuân của đời mình vì công cuộc thống nhất đất nước, để phục vụ dân tộc, chỉ tiếc cuối cùng căn bệnh ác nghiệt đã ngăn cản sự nghiệp của Ngài năm 1792, lúc Ngài mới 40 tuổi. Tôi muốn nói đến tinh thần Quang Trung không là "chống giặc, giữ nước" mà là "đánh giặc, giữ nước". Đánh giặc, giữ nước nói lên tinh thần chủ động và không còn xem Bắc phương là một nước lớn cần phải tùng phục.



 

Vì vậy, tôi muốn đem tinh thần Quang Trung soi chiếu vào tình trạng của tuổi trẻ Việt Nam. Nếu ai hỏi rằng "Tương lai Việt Nam 43 năm sau cuộc chiến, và tuổi trẻ Việt Nam đang làm gì trong hiện tại và sẽ làm gì trong tương lai"?  Xin thưa, đây là một câu hỏi mà mỗi người trong chúng ta tự hỏi nhau hàng ngày, không cứ gì phải đợi sau 43 năm.  Tôi muốn trình bày nơi đây với tư cách của một người con Việt bình thường, một người Việt "tout court" không cần học vị, không chức vụ kèm theo. Tôi hy vọng nói ra đây những suy nghĩ cùng nhận định của tôi về hiện tại và tương lai.

Như chúng ta đã biết, yếu tố con người là một trong những yếu tố quyết định trong mọi chuyển dịch của sinh vật trên quả địa cầu nầy, trong đó thế hệ trẻ hiện tại càng là một thành tố quyết định cho tương lai của từng quốc gia. Tôi muốn thưa với tất cả nhận xét của riêng tôi về các chuyển biến tư tưởng và sinh hoạt của người Việt, nhất là tuổi trẻ trong quá trình 38 năm sau cuộc chiến để có một dự phóng về tương lai Việt Nam. Tôi không muốn nhắc đến cuộc chiến Việt Nam đã qua, không phải vì đã quên hay vì mặc cảm, mà chỉ muốn chia sẻ qua trao đổi nầy những thay đổi tâm lý, hành động, cùng các suy nghĩ của thế hệ trẻ hiện tại trong suốt thời gian 38 năm  qua. 

  • Trước hết, tại hải ngoại người Việt đã hình thành nhiều nhiều cộng đồng hiện diện rải rác trên khắp thế giới, tiếp thu những nền văn minh tiến bộ cùng cung cách tổ chức xã hội từ các quốc gia tạm dung để được hội nhập vào môi trường đang sống hiện tại. Đôi khi có những cọ sát vì sự khác biệt chủng tộc, tôn giáo, văn hóa... nhưng tựu trung đa số đã hòa nhập vào các xã hội tây phương tương đối nhịp nhàng và hài hòa trong cuộc sống. Những hiện tượng tiêu cực nơi cá nhân, gia đình, và môi trường chung quanh vì ảnh hưởng của các lề lối cổ xưa, phong cách phong kiến, hủ nho.... lần lần được thay thế từng bước bằng những tư tưởng tiến bộ và tinh thần hướng thượng ngày càng in đậm nét trong mỗi chúng ta.

 


  • Trọng tâm là tuổi trẻ hôm nay, ở cả quốc nội và hải ngoại, vì tôi nhận thức rằng đã có nhiều báo hiệu cho thấy tuổi trẻ đã chuyển mình rất lạc quan. Tại hải ngoại, tuổi trẻ đã có tầm nhìn khai phóng, can đảm cáng đáng việc cộng đồng trong tinh thần vô vị lợi, ví dụ một việc tuy nhỏ nhưng quan trọng là việc tổ chức Hội chợ Tết ở Cali trong những năm vừa qua. Thật phấn khởi vì nhìn đâu cũng đều thấy sự hiện diện của tuổi trẻ. Nhìn qua các trung tâm dạy tiếng Việt ở rải rác khắp nơi có đông người Việt cư ngụ, tuổi trẻ chiếm đa số, năng động và bền bĩ theo đuổi công cuộc bồi đắp và gìn giữ tiếng Việt tại hải ngoại. Tôn chỉ "Tiếng Việt còn, nước Việt còn" chắc chắn vẫn là một nền tảng bền vững để bảo tồn văn hóa Việt Nam.  Ở quốc nội, mặc dù phải chịu đựng khó khăn muôn vàn về mọi mặt, mất nhiều thì giờ cho sinh kế, tuổi trẻ cũng nêu lên ý chí vươn lên trong học tập, và tinh thần từ bi bác ái trong các công tác từ thiện. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay, theo nhận xét của nhiều người từng về Việt Nam, vẫn tiếp tục cố bám lấy việc học và xem đó là cánh cửa đầu tiên và quyết định để bước vào tương lai dù đang sống trong tình trạng kinh tế rất hạn hẹp.
  • Dù sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn trong nước hay đứng trước những cám dỗ của một xã hội thiên về cá nhân và vật chất trên thế giới, tuổi trẻ Việt Nam ở hai nơi đều thể hiện nghị lực phấn đấu với một tinh thần quả cảm và một ý chí tuyệt vời. Tuổi trẻ Việt Nam không ngại những phiêu lưu trong hành xử dù phải chịu nhiều vấp ngã. Học hỏi trong kinh nghiệm, trong thất bại, tuổi trẻ Việt Nam đã và đang mạnh dạn đi tới tương lai.

Tuổi trẻ Việt Nam trong sáng hội nhập vào xã hội với niềm tinh vững mạnh cho tương lai, không mặc cảm, không vướng bận quá khứ, không có những rào cản, vết hằn từ các oan nghiệt của lịch sử như các tuổi cha anh, không ràng buộc vào những thành kiến bảo thủ và ý tưởng cực đoan. Với tinh thần dân chủ cao độ đã được un đúc do học tập và kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày, tuổi trẻ càng cho chúng ta thêm niềm tin khi dự phóng về tương lai. 

Có lẽ chúng ta không quên rằng quá trình tiến lên dân chủ của con người là do kết quả của bao thế hệ, kéo dài hàng bao thế kỷ.  Những hiện tượng phân hóa trong cộng đồng ở hải ngoại, những hình ảnh tiêu cực thường thấy ở quốc nội...chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn lột xác của một thế hệ mới để rồi hội nhập vào một xã hội trong đó mọi người đều bình đẳng. Để đến hôm nay, tự do cá nhân được mọi người trong chúng ta tương đối tôn trọng trong tinh thần tương kính. 

Từ hơn 25 thế kỷ trước, khái niệm tự do cá nhân mà chúng ta đang hưởng đã được manh nha ở Athens Hy Lạp. Trước đó chưa có xã hội nào nghĩ đến khái niệm công bằng và tự do! Quan niệm xưa lại cho rằng, nếu có tự do, xã hội sẽ đi đến hỗn loạn. Và qua bao nhiêu thế kỷ, tự do cá nhân và trật tự xã hội vẫn được xem như là hai thực thể đối kháng, không thể hiện diện hài hòa trong cùng một xã hội được.   

Người Hy lạp 25 thế kỷ trước đã nhận định sáng suốt rằng sự tự do vô giới hạn sẽ kéo theo những biến loạn cho trật tự xã hội. Nhưng cuối cùng cũng chính người Hy Lạp đã tự soi sáng rằng nếu con người có được tự do cá nhân, họ sẽ tự thích ứng và tự chế để ổn định trật tự mà không cần phải có một quyền uy tối thượng để ban bố và tái lập trật tự xã hội. Từ đó, trong việc hành xử quyền tự do cá nhân, cung cách tự chế của người Hy Lạp lên rất cao. Và thành phố Athens đã là căn cứ địa đầu tiên cho nền tự do trên thế giới, trong đó mọi cá nhân đều được tham gia vào guồng máy của chính phủ từ anh nông dân đến kẻ chăn chiên lẫn các thương gia, phú hào... Pericles đã thốt lên câu nói bất hũ "Mọi cá nhân đều đáng được tin cậy" (The individual can be trusted).  

Ngày nay, Đức Dalai Lama, trong diễn văn chào mừng thiên niên kỷ mới đã chia sẻ, tin tưởng và tôn vinh tuổi trẻ trong việc xây dựng và tái lập trật tự xã hội cho tương lai. Với kiến thức thu thập được từ những kinh nghiệm về xây dựng và hủy diệt của các bậc cha anh, cộng thêm niềm tự tin, tính cả quyết cùng nhận thức hướng thượng, tuổi trẻ sẽ biến cải xã hội tương lai thành một môi trường hạnh phúc hơn, hòa bình hơn trong đó con người sống hài hòa với nhau hơn. 

Để kết luận, có điều chắc chắn là tuổi trẻ Việt Nam, hậu duệ Vua Quang Trung, ở hải ngoại và quốc nội đã trưởng thành và đang mạnh dạn đi vào cuộc hành trình mới làm cho xã hội Việt Nam ngày càng tốt thêm. Trong tiến trình dân chủ hóa tư tưởng và xã hội, dĩ nhiên tuổi trẻ cũng sẽ gặp phải muôn vàn cản ngại, thất bại vì thiếu kinh nghiệm. Nhưng những điều đó sẽ không làm tuổi trẻ chùng bước mà trái lại các rào cản trên chỉ là những thử thách ban đầu. 

Với cung cách tiếp cận lạc quan, tầm nhìn rộng mỡ và hướng về tương lai, chắc chắn tuổi trẻ có đủ tiềm năng và khả năng để tái lập một xã hội Việt Nam trong đó con người hành xử với nhau với tâm an bình, từ bi và nhân bản hơn. 

Vậy, câu hỏi tương lai Việt Nam 43 năm sau cuộc chiến đã được tôi trả lời bằng cái nhìn tích cực hướng về tương lai và rất tin tưởng vào Tuổi Trẻ Việt Nam sẽ làm được việc.  

Và tinh thần chiến đấu liên tục của Hoàng Đế Quang Trung đã thấm vào tâm thức của tuổi trẻ, và tuổi trẻ hôm nay không còn ở thế thụ động nữa mà ở thế tấn công. Đó là "đánh cường quyền, xây dựng đất nước". 

Tuổi trẻ Việt Nam đang đi tới với tinh thần Quang Trung như thế, chắc chắn chúng ta sẽ có ngày trở lại Quê Hương Việt Nam. 

Hy vọng là tôi không lạc quan quá đáng? 

BC Mai Thanh Truyết

Lễ Chiến sĩ Trận Vong - 2018

 



--

________________________________________

Mai Thanh Truyết

https://maithanhtruyet1.blogspot.com/

https://www.facebook.com/envirovn


"Sự bền vững của thế giới chúng ta là năng lượng tái tạo, tái chế phế thải và môi trường xanh."  "The sustainability of our world is renewable energy, waste recycling & green environment." - MTTruyết -

 


 

Suy Nghĩ Cuối Cùng của GS Nguyễn Văn Trường về Việc Xây Dựng Một Viện Đại Học Tư Lập ở Việt Nam

 


Lời người ghi lại: Đây là trích đoạn bài viết chung của GS Nguyễn Văn Trường và Mai Thanh Truyết về Sự thành lập Viện Đại học Cao Đài Tây Ninh

 

 

 

Khai phá là đi vào cái mới, đất mới, lãnh vực mới…, ở đó, chưa một ai đến, chưa một ai khai, chưa một ai phá, để xây dựng cái mới.

 

Cái mới là cái chưa biết.  Cái chưa biết nào cũng có những bất ngờ, không trù liệu trước được. Cho nên, tiến trình khai phá là một tiến trình phiêu lưu. Cuộc phiêu lưu nào có những hiểm nguy của nó. Vì vậy, người tiên phong phải có một tầm nhìn xa và rộng, và phải can đảm nhận trách nhiệm về công trình khai phá.

 

Hơn nữa giáo dục, dù là giáo dục Đại Học, vẫn bao hàm cái ý ổn định, vững chắc. Dạy học là chuyển giao những giá trị qui định trong chương trình học. Những giá trị nầy, ít nhất là cho đến 4 năm đầu Đai Học, phải là cổ điển, tức là được công nhận là vững bền. Dân tộc, nhân bản và khai phóng là phương châm chỉ hướng cho nền giáo dục của chúng ta thời bấy giờ. Nói khác hơn là trong một chừng mực nào đó, ta muốn cột giữ học sinh sinh viên ta trong lòng dân tộc, trong những giá trị ngàn đời của cha ông, mà ta thiết tha kính giữ.

 

Con người mà chúng ta đào tạo cũng phải thấm nhuần tính người, tình người, nhưng không là một mẫu người trừu tượng hay là con người chung chung của muôn nơi muôn thuở, mà phải là con người của dân tộc nầy, trong thời khoảng lịch sử nầy trước đã.




 

Cho nên, dạy học là cột con người hai lần: cột vào nhân bản, chưa đủ, cột thêm vào dân tộc, cho chắc. Ý thức rõ như vậy, người dạy đương nhiên thấy có nhu cầu khai phóng: người cột phải mở. Tùy lứa tuổi, tùy trình độ học viên, lối dạy phải khoáng đạt, nhiều chiều, và trong mỗi chiều có thuận có nghịch.

 

Dầu vậy, nội dung, ngoại trừ các đề tài luận án, đều phải cổ điển, được công nhận là những giá trị cơ bản vững bền.

 

Người dạy, thường thường không ai là người muốn mạo hiểm.

 

Tôi, một ông giáo, tôi cũng không muốn mạo hiểm trong các công tác giáo dục của tôi.

 

Vì vậy, mà tôi phải cặn kẻ trao đổi những nghĩ suy và tính khả thi trong công tác hình thành Viện Đại Học.

 

Người tôi tiếp cận đầu tiên là Ông Viện Trưởng Nguyễn Văn Lộc, nguyên thủ tướng chính phủ. Ông rất bình dị. Chúng tôi vẫn xưng hô là anh em, nhờ vậy mà mọi vấn đề được thẳng thắng đặc ra và bàn luận.

 

·       Tiên quyết là sự an ninh trên con đường Sàigòn Tây Ninh, chỉ 99 cây số, mà nghe đâu nó xuyên ngang chiến khu của VC. Tôi được biết là Anh vẫn thường đi lên Toà Thánh bằng xe riêng hoặc xe của Tòa Thánh.  Tôi có sự xác nhận của nhiều người khác, nói riêng là của ông Thừa S Tấn. Tôi cũng nghĩ:  Những người sống về nghề móc túi, bấm giây chuyền, nói chung là kẻ trộm cắp, luôn luôn hoàn lại cho khổ chủ nếu khổ chủ là người trong khóm, nơi trú ngụ của mình.  Trong cái suy nghĩ đó, thiết nghĩ VC, phải giữ an ninh cho tuyến đường Sài gòn-Tây Ninh, bằng không cái ổ ẩn trú của họ sẽ bị quậy nát, mà dân chúng không bao che cho họ.

 

·       Về viễn kiến về Viện Đại Học: hình như quí vị trong Đại Đạo nghĩ rằng:

 

1. Tây Ninh nằm trên con đường chánh đi Nam Vang;

2.  Đức Hộ Pháp có nhiều năm ngụ ở Nam Vang;

3. Ánh sáng Đại Học Cao Đài sẽ mở rộng trong hướng Cambodia, và vùng cao nguyên bao   quanh Thánh Địa.

4. Vã lại Đạo có huyền cơ.

 

Nghĩ cho cùng thì những đại học xưa, khởi điểm rất khiêm nhường - Haward (Mỹ) bắt đầu chỉ có 9 sinh viên[1], Notre Dame[2] (Mỹ) là một đại học Công Giáo mà phải 2 năm sau mới được công nhận, Đai Học Sorbonne khởi đầu là một Viện Thần Học, và đến Cách Mạng Pháp (1789) bị đóng cửa[3],..

 

Tôi không tổng quát hóa. Tôi cũng không lấy tiêu chuẩn thời thượng mà đo lường đại học thời nay. Tôi nghĩ tương lai của một đại học là do mức độ đóng góp của các thế hệ tốt nghiệp đại học đó vào sự nghiệp chung của nhân loại. Tôi cũng nghĩ giáo dục là đầu tư dài hạn.  Giáo dục nhằm vào con người: trí tuệ, tình cảm, tính tình. Mà con người chỉ có thể là một diễn trình chỉ chấm dứt khi con người ấy yên nghỉ dưới ba tất đất.

 

Cho nên chúng tôi thống nhất trong cái nhìn huấn luyện nghề. Ở các trường kỷ thuật lúc bấy giờ, các nghề mộc, tiện,.. đều  được qui định huấn luyện bao nhiêu giờ. Một sinh viên vào trường Võ Bị Thủ Đức, sau 11 tháng ra trường là một ông Thiếu Úy. Mục tiêu của trường Nông Lâm Súc hay Sư Phạm là trang bị cho học viên một cái nghề: cán sự hay kỹ sư Nông Lâm Súc hoặc giáo sư đệ nhất cấp hay đệ nhị cấp.

 

Nói chung, huấn luyện là có lớp có lang, bài bản rõ ràng, hết bài bản là ra nghề, quen thuộc với một số thao tác, hành vi, để từ đó không ngừng cải thiện tài khéo, tùy duyên mà đổi mới cách nghĩ, cách làm, mở rộng và đi sâu vào nghề nghiệp.

 

Trang bị phòng thí nghiệm, hay xưởng máy, hay nông trường, trại chàn nuôi thực tập cho sinh viên rất tốn kém. Thiết nghĩ phải kết nghĩa với một đại học Mỹ hay Pháp, hay Canada, hay Úc. Cũng nên ghi: Từ nghĩ đến thực hiện thường có một khoảng cách khá rộng.

 

Tôi còn muốn việc huấn nghệ có những điểm đặc thù,  thí dụ của Trường Nông Lâm Súc có tác động gì với việc trồng trọt, chăn nuôi, và lâm sản địa phương. Chỉ bao nhiêu đó thôi, tôi đã lung túng. Tôi cũng nghĩ bất cứ ai cũng lung túng như tôi. Lúng túng đó là thách đố cho tôi. Tôi phải tìm học, không ở sách vở mà ở môi trường. Tôi phải lên Tây Ninh, cùng với giáo sư và sinh viên tôi khảo sát môi trường, cách trồng lạc, khoai sắn, hột điều (đào lộn hột), cách chăn nuôi, khai thác lâm sản, và thị trường. Miệt ấy, người ta dung máy John Deere của Mỹ, máy Kubota của Nhật không dùng được vì quá yếu,.. Nói chung, tôi phải biết nhu cầu của địa phương. Tôi phải tìm cho ra những sắc thái đặc thù cho hai trường Nông Lâm Súc và Sư Phạm Cao Đài của tôi.

 

Tôi nói khai phá là như vậy đó: là đi vào những vấn đề, mà giờ đây chưa có một ai biết được.

 

Khai phá cũng có thể hiểu là tôi phải trang bị các phòng thí nghiệm, chỉ nói cho khoa học cơ bản mà thôi, từ A đến Z. Và không những chỉ có vậy, phải biến các phòng ốc thành phòng thí nghiệm, có điện, có nước, có chỗ cho sinh viên thực nghiệm. Và nếu người thợ thi công, hoặc ông thầu thi công làm công quả, làm chùa, thì thúc hối cho hoàn tất, kịp thời thì quả là một điều rất tế nhị. Rồi đến nông trường, trại chăn nuôi, chuyện làm không bao giờ dứt.




 

Tóm lại, tinh thần khai phá nói ở đây là tinh thần chấp nhận thách đố, chấp nhận hiểm nguy. Trong khai phá có phiêu lưu, có những sự việc mà đến bất ngờ không lường trước được. Nhưng khai phá không trùng nghĩa với phiêu lưu. Có người nghĩ phiêu lưu là đùa giởn với số mạng, giao mình cho may rũi, được thua do thiên mạng.

 

Ở đây, khai mở một viện đại học mới, một môi trường giáo dục mới, mà bao quanh tôi là những nhà tu hành, phẩm hạnh cao. Cho nên khai phá trong bối cảnh nầy bao hàm ý thức trách nhiệm.  Riêng tôi, tối thiểu là tôi trách nhiệm đối với các đồng nghiệp, đồng sự mà nhận lời mời, hay 'rủ rê' dấn thân vào công trình chung, và nhất là đối với sinh viên của tôi.

 

Vì vậy, mà có lắm điều, tôi vấn hỏi anh Lộc.  Giờ, không nhớ hết được, chỉ ghi lại đôi điều như trên đây. Nhờ vậy mà ý thức được cái biết của mình thì giới hạn, mà cái dốt của mình thì vô cùng.




Cũng nhờ vậy mà lăn xả vào việc, không ngại khó, không ngại gian nan, không ngừng học hỏi,  tôi luyện khả năng, tài khéo (skills), trí tuệ và tính tình. Đó cũng là xem đổi thay là đương nhiên, cuộc sống là một giòng chảy không ngừng đổi mới,

 

Thiết nghĩ, đông đảo bạn bè tôi chia xớt quan điểm nầy.

 

Và nhìn lại, tôi có nhiều may mắn.

 

Nguyn Văn Trường

Quyn Vit trưởng Vin Đại hc Cao Đài Tây Ninh 1974-1975

Houston - 12/2017

 



--

________________________________________

Mai Thanh Truyết

https://maithanhtruyet1.blogspot.com/

https://www.facebook.com/envirovn


"Sự bền vững của thế giới chúng ta là năng lượng tái tạo, tái chế phế thải và môi trường xanh."  "The sustainability of our world is renewable energy, waste recycling & green environment." - MTTruyết -

 


Bài nói chuyện ở Workshop về Human Rights và Môi trường ở Quốc hội Canada ngày 10/5/2018 lúc 2:30PM

 

A New Perspective on Human Rights in Vietnam

 

Speech on Workshop on Human Rights and Environment at

Canadian Assembly on May 10th, 2018.

 

 

Dear Ladies and Gentlemen,

 

On behalf of Vietnamese community living outside of the Mother Land, today, it's my honor to share with all of you the different perspectives on Human Rights in Vietnam today to commemorate The Black April Day, the thirtieth of April 1975.

 

From this day, human rights are widely understood to be the rights of man to live on this planet. These are fundamental rights that have been approved most countries in the world, as the 10th of December has been dedicated for International Human Rights Day.

 

With more than 100 laws and protocols on human rights existed, Vietnam only ratified certain laws. Most of the basic rights applied to people living in civilized countries were not recognized by Vietnam for the right to a safe, clean, healthy and sustainable environment that is indispensable to human rights, including the right to life, health, food, water, and sanitation.

 

These above are the rules of human rights, fundamental freedoms, the right to form associations, protocols for the prevention of torture, and more.

 

Therefore, Vietnam still has many shortcomings in ensuring an "equal" life for the people.

 

The basic human rights is a flagrant disregard of the communist government in Vietnam. Currently, the Vietnamese people are not entitled to the justifiably rights as all citizens of the world in accordance with UN regulations. There are the rights that people must demand and fight for these noble cause. It is essential for their daily life and future: 

 

1. The right to have clean water;

2- The right to breathe unpolluted air;

3- The right to hygienic and safety of foods.

 

Although these rights are included in the No. 3 & 25 of Universal Declaration of Human Rights, which are:

 

·       No 3. The right to Life. We all have the right to life, and to live in freedom and safety.

·       No 25. Food and Shelter for All. We have all the right to a good life. Mothers and children, people who are old, unemployed or disabled, and all people have the right to care for.

But in reality, the Vietnamese people are struggling to obtain these rights.

 

After 43 years of governing and managing the whole country by the Political Bureau of Communist in Vietnam for economic development, the rights mentioned above were not applicable. At this time, the government's policy and planning which have applied in the past and present had created a massive disaster that heavily impacted the environment in our Mother Land.

 

So, today, I would like to express my voice as a Viet's child to share with all of you, the representatives of the Canadian, the reasons why the Vietnamese people should have these rights, and the causes of these environmental impacts are:

 

1-    Environmental impacts of deforestation

 

Before the Second World War, the surface of forest in Vietnam was 19 million hectares (58% of the country's total area). By 1943, the forest had only 14.1 million hectares (43%) remaining; By 1990, the situation was worse, with only 9.1 million hectares (27.7%). Now, only 5% of forestation is remaining!

 

2-    Air pollution

 

Although Vietnam ratified the Kyoto Protocol on Global Warming on September 25, 2002, air pollution and dust pollution increased. Dust is the most common air pollutant in Vietnam. For the past 20 years, "... most of the cities in Vietnam have been contaminated with dust, many of them are severely contaminated with dust."

 

Lead is another common air pollutant, especially in urban areas. The number of motorcycles and cars exponentially increases and this leads to an airborne lead concentration of 1 to 4 micrograms/m3 (ug/m3). For comparison, according to research published in Pediatrics Journal in 1994, lead concentration in air in Chicago in 1988 were below 0.5 mg/m3 ", considered the most polluted city in the United States of America.

 

3-    Water pollution

 

The UN has initiated a very clear concept that "water itself is colorless and borderless so it cannot be inhibited" and "Everyone in the world has the right to have enough clean and safe water."

 

In Vietnam, the rapid economic and social growth since 1986 has caused urban and rural water pollution throughout the country, and the quality of water resources in Vietnam seems to be more and more degraded.

 

Wastewater from residential areas, industrial centers, export processing zones, agricultural land, etc., has penetrated surface water, groundwater, and even water quality in coastal areas. Residential water, industrial wastewater, and leachate from landfill sites are the main causes for organic pollution in surface water, especially in big cities such as Saigon, Hanoi, Hai Phong, Da Nang, Can Tho

 

        4- The use of chemicals in agriculture

 

The term "bảo vệ thực vật in Vietnamese" meaning "plant protection" refers to chemicals used for pesticides, insecticides, weed killers, and fungicides. Here are three main reasons why these poisoning chemicals are becoming universal in Vietnam:

 

• The above chemicals used do not have  the clear label for ingredients. In Vietnam, there are over 700 different brands of these chemicals are being used as fertilizers and "plant protection chemicals";

 

• Farmers are not adequately trained.

 

The Food and Agriculture Organization (FAO) has recommended that the pesticide use index in Vietnam is very high, reaching an average of 5.3 per season, while the index in China is 3.5, the Philippines, 2.0, and India, 2.4.

 

In Vietnam, pesticides are used separately or in the form of a cocktail to enhance the toxicity of the drug against insect resistance. DDT is considered the main agent in many of these mixtures. For example, a mixture of DDT, Thiodan (or Endosulfan) and Folidol (Methyl Parathion) are commonly used to kill leaf rollers insect in the rice industry.

 

So, incorrect application of plant protection chemicals as using a proper dosage, incorrect identification of the target (insect pests ...), and incorrect timing are three factors that cause:

 

·       Rapidly degrading on the environment;

·       Economic efficiency in production is low;

·      And the health of the farmer are affected because there are no safeguard measures to access to chemicals.

 

           5- Right to education and guidance

 

The percentage of farmers in Vietnam is about 50%, according to the 2016 statistics, which is about 48 million. Most of them are not educated or taught how to use chemicals in agriculture. Indonesia is a regional country having a good vision and is seen as a model of proper agricultural development and strong strategy for national development in harmony with environmental protection.

 

Conclusion

 

Just a few years ago, an extremely heartbreaking tragedy occurred in the East Sea in which the Chinese called the South China Sea. From the Specific Economic Zone of China, under the name of Formosa at Vũng Áng, Hà Tĩnh Province, thousands of tons of liquid and solid toxic chemicals dumped into the East Sea, which resulting in killing millions of fish alongside from Hà Tĩnh province to four southern provinces as Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, and Đà Nẵng.

 

Since hundreds of thousands of fishermen have quit their jobs because they no longer catch fish and shrimp. They are at risk of starvation because there is no job to survive. Once the fishermen perish due to starvation, the farmers and traders are at stake       due to the domino's effect on their businesses. Moreover, millions of people are unaware that shrimp and fish are poisoned, not edible. Consuming the poisoned seafood may not kill them immediately. Yet, in the long run, their lives are at risk of much potential harms to their health.

 

It is worth mentioning that the so-called Nhà Nước (State of Socialist of Vietnam) has   inconsiderate and insensitive to this calamity. Nguyen Phu Trong, the supreme ruler visited this killing area in Vũng Áng but he did not have a word or take any action to protect the victims. The Prime Minister and the President of the National Assembly also stayed in silence regarding this catastrophe.

 

So, in the great indignation of the Vietnamese people, we took the opportunity, once again, to bring this letter of complaint to the United Nations Human Rights Commission, to Human Rights Watch, asking them to banish the Vietnamese Communist Party out of Human Rights Commission.

 

One of the most burdensome responsibilities of the Vietnamese leadership is for UNICEF to sponsor and promote the digging of tube wells for clean water in Mekong Delta and Hồng River Delta. Bangladesh is also home to over 4 million tube wells nationwide since the years of 1970. Now, hundreds of thousands of people die each year from arsenic contamination in water.

 

The Vietnamese Communist continues to advocate the digging of tube wells even though it is acknowledged that arsenic contamination is a reality, through the occurrence of arsenicosis already happened at one Southern part of Ha Noi because the tube well has arsenic concentrations higher than the permitted standard required by WHO (10 ug/L water) more than ten times, and more.

 

For the past more than ten years, I and a few friends have researched and found out the way of eliminating arsenic in water of these regions in using dried water hyacinth (cây lục bình). My friends are already going back to Mekong Delta to educate the farmers how to use the "bamboo filter" for their drinking water. Please see our web  www.weall.care.

 

Again, Vietnam needs a global perspective, in line with the general development of the world, accepts the common law, and most importantly the need to remove and replace of the structure of "The proletarian dictatorship" (cơ chế chuyên chính vô sản) to govern the country.

 

Vietnam has won a military victory in 1975. Since then, after 43 years, it can be said today that the mentality of the Vietnamese leader has been poisoned by the above structure, resulting in severe corruption and severe mismanagement syndrome.

 

Could the victory in the war, although has been gone for 43 years, but it still gives the Vietnamese leader the glory and ecstasy of winning the old days?

 

Unify the country is not enoughVietnamese Communist needs to take the blame and take initiative in reconciling the entire cracked and spiritual destroyed nation. 

Only this clever work can create the opportunity to save Vietnam in the new process of humanity.

 

Dears Ladies and Gentlemen,

 

In recent years, the globalization process of nations around the world has proved that countries that do not adapt to fast and new change will soon disintegrate sooner or later. The global superstructures will no longer be compatible with the way the Vietnamese Communist gives pressure to the Vietnamese people, dictates and orients them to the "so-called" socialist way.

 

This procedure will no longer work and cannot be applied to Vietnamese people.

 

Thank you for your listening.

Best regards,

 

 

Mai Thanh Truyết

Chairman, Vietnamese American Science & Technology Society – VAST

Chairman, Vietnamese Environmental Protection Society - VEPS



--

________________________________________

Mai Thanh Truyết

https://maithanhtruyet1.blogspot.com/

https://www.facebook.com/envirovn


"Sự bền vững của thế giới chúng ta là năng lượng tái tạo, tái chế phế thải và môi trường xanh."  "The sustainability of our world is renewable energy, waste recycling & green environment." - MTTruyết -

 


//////////////////////////////////////////////////