Chinh Sach Cai Tri Quan Ly XHCN

 

 

Chính Sách "Cai trị" và Quản lý Xã hội Chủ nghĩa

 

Trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn - Ban Khoa học

Chính Sách "Cai trị" và Quản lý Xã hội Chủ nghĩa

 

Lời người viết: Ngay sau khi chiếm đóng miền Nam ngày 30/4/1975, Cộng sản Bắc Việt thực thi ngay tức khắc chính sách quân quản và tiếp theo đó, dần dần cho cán bộ dân sự từ miền Bắc vào để quản lý các cơ sở đã chiếm được. Phạm vi bài viết sau nầy trình bày hai giai đoạn trên trong trường Đại học Sư phạm Sài Gòn. Phần sự kiện do người viết đã sống trorg giai đoạn đó và ghi lại qua trí nhớ. Do đó, có thể có sai sót; mong các bạn đồng nghiệp giúp điều chỉnh cho. Một điều chắc chắn là người viết hoàn toàn ghi lại và không thêm bớt một hình ảnh hay giai thoại nào, đúng với lương tâm là nói lên Sự Thật, dù có phũ phàng.

Những ngày đầu tiên

Ngay từ ngày đầu tiên ngày 1/5/75, Bắc Việt đã thiết lập một hệ thống kiểm soát mới tại trường bằng cách tạm thời thu dụng một số nhân viên, giáo sư của trường vì không đủ nhân sự. Tuy không cần kể tên ra đây, nhưng chúng ta cũng nhận diện rõ được là bên Ban Khoa học do TS Lý Công Cẩn, Phó Khoa trưởng đảm nhiệm, gồm Ban Toán, Lý, Hóa và Vạn Vật đều có "đại diện" tham gia vào "đạo quân 30/4". Hầu hết đạo quân nầy thuộc thành phần giảng huấn nằm trong ngạch Giảng nghiệm viên. Tuy nhiên có hai Giảng nghiệm trưởng, một ở ban Lý và một ban Hóa, và hai Giảng sư ban Hóa và Toán là thành phần nồng cốt bên Ban Khoa học. Hai Giảng sư nầy được nâng lên làm Tổ trưởng học tập trong những ngày sau đó.

Còn Ban Văn Chương do TS Lê Văn phụ trách, cũng có một số Giảng nghiệm viên và hai Giảng sư tham gia vào "cách mạng", trong đó có một Giảng sư nổi tiếng sau nầy, được cân nhắc làm Bí thư riêng cho Thủ tướng cs Phạm Văn Đồng, rồi Đại sứ tại Liên hiệp quôc, rồi Dân biểu quốc hội, và nhiều chức vụ khác. Để rồi, ngày hôm nay (9/2011)…trở về nhiệm vụ "phó thường dân" giống như hầu hết những người kháng chiến cũ gặm nhấm  "một mối căm hờn trong cũi sắt"…vì bị vắt chanh bỏ vỏ! Còn một Giảng sư thứ hai, cố gắng đặt một bản nhạc…mừng "giải phóng" và "bắt" hầu hết các "học tập viên" của trường phải tập hát để mừng "phỏng giái", giống như bài hát suy tôn Ngô tổng thống mà ông ta đã "lập sớ dâng công" năm 1953 khi còn giảng dạy ở Đại học Huế.

Còn một số nòng cốt "hạng hai" được giao phó làm Tổ Phó, có nhiệm vụ canh chừng và theo dõi các tổ viên, từng là dồng nghiệp hoặc "xếp" của mình chỉ một ngày trước đó.

Về phía sinh viên của trường, chỉ nói riêng bên ban Khoa học gồm một Trưởng lớp LH2, một Trưởng ban sinh viên Khoa học cũng đã tích cực tham gia vào đội quân "cai trị" thành phần giáo chức, nhân viên, và sinh viên cũ của trường. Cho đến hôm nay, một Trưởng ban trên được giữ chức vụ Chánh sở Giáo dục tại một miền duyên hải cạnh Sài Gòn, và một, vượt biên cùng thời với người viết đầu năm 1983 tại Sungai Busi (Mã Lai). Anh nầy đến gặp người viết, lúc đó làm Trưởng trại nơi đây, và xin được "bỏ qua" nhưng hành động cũ vì sợ người viết tố cáo lên Cao ủy LHQ. Trò có thể hại Thầy, Chứ Thầy làm sao nhẫn tâm hại Trò được! Anh nầy hiện đang định cư ở Canada.

Về thành phần sinh viên của trường đã "chạy vào bưng" một vài năm trước đó…vì học kém, hay vì theo tiếng gọi của "ma vương" (?) đã trở lại trường ngày 1/5. Cần phải kể đến Mai Hồng Thu và Ngô Phàn ban Lý Hóa, là hai thành viên "sắt máu" nhứt trong việc kiểm soát sinh viên và ban giảng huấn bên ban Khoa học và toàn trường. Chính Ngô Phàn đã chạm mặt với người viết trước của văn phòng Phó Khoa trưởng và hỏi một cách hách dịch rằng:" Anh có biết ông Cẩn ở đâu không?" sau khi phám phá một khẩu súng lục nhỏ trong ngăn kéo của ông. (Xin gửi lời cám ơn một đồng nghiệp đã đính chánh dùm cho tác giả vì đã nhớ và viết lầm tên Mai Hồng Thu trong bài viết Bài học đầu tiên trước đó).

Cũng cần nói thêm một trường hợp đặc biệt nữa là "sinh viên" Phạm Trúc Lang, học lớp Lý Hóa 1 Ban Đệ nhứt cấp (hai năm). Anh sinh viên nầy đích thực là Thiếu tá cảnh sát đặc biệt và học lớp nầy suốt ba năm liền cho đến khi bị Bắc Việt chiếm đóng. Chính "anh sinh viên đặc biệt" nầy đòi bắt anh Trưởng lớp LH2 trong đêm Tất niên của trường đầu năm 1975 sau bản đồng ca "Dậy mà đi" do lớp nầy trình bày. Và thêm một lần nữa, người viết đã can thiệp và bảo lãnh cho sinh viên trên; vì vậy mà anh ta khỏi bị bắt. Anh "sinh viên" nầy đã biến mất ngay sau đó.

Về thành phần "cách mạng", hoàn toàn không thấy bóng dáng một bộ đội hay một cán bộ dân sự nào từ miền Bắc vào, ngoài vài ba chị nhà quê như chị Năm, chị Bảy vắt khăn rằn trên cổ…đi tới đi lui chỉ chỏ, ra lệnh. Tuy chỉ có thế mà đội quân 30/4 của trường răm rắp tuân theo tuyệt đối. Thật là một phỉ nhổ cho thành phần giảng huấn của Trường lúc bấy giờ.

Viết đến đây, bạn đọc sẽ thắc mắc là thành phần nầy hiện giờ ở đâu? được đãi ngộ như thế nào? Và đang làm gì?

Xin thưa rằng:

l Một tổ trưởng ban Hóa, sau một thời gian phấn đấu, vỡ mộng và xin qua Pháp vì có quốc tịch Pháp. Hiện Bà ta đang dạy tiếng Việt ở Rennes (Pháp).

l Một tổ trưởng ban Toán, hiện đang làm Giám đốc Ban Ngoại ngữ của trường và đã về hưu (?).

l Một tổ phó ban Hóa, mặc dù chỉ có Cử nhân mà sau đó vẫn được cân nhắc làm Trưởng ban Hóa, "quản lý" trên 30 "cán bộ giảng dạy" của trường.

l Phần còn lại của đội quân 30/4 hiện tại đang sống lây lất ở Pháp, Canada, Úc, và Hoa kỳ…

Thời kỳ quân quản

Chỉ một thời gian ngắn độ một tuần lễ sau đó, hình ảnh các "anh" bộ đội" với quân phục và quân hàm cùng với cái túi vải đeo trên lưng hiện diện cùng khắp và chiếm cứ tất cả văn phòng của trường. Thêm vào đó, độ 10 cán bộ "giảng dạy" xuất phát từ Đại học Sư phạm Vinh vào và bắt đầu chính sách quân quản và quản lý trường ốc. Dẫn đầu là "đồng chí" Trần Thanh Đạm, một "cháu ngoan Bác Hồ", mà sau nầy được cân nhắc lên làm Hiệu trưởng Trường Sư Phạm trong suốt 20 năm sau đó. (sẽ có một bài viết riêng về nhân vật nầy trong thời gian tới). Còn các cán bộ giảng dạy và nhân viên các phòng ốc lần lượt được điền khuyết và bổ túc như chị Yến, chị Hội của ban Hóa, là những Phó tiến sĩ từ Liên Sô (nhưng trình độ chuyên môn cần phải xét lại sau hơn một năm "trao đổi" trong thời gian người viết đang "còn bị treo giò" ở Sư Phạm.

Giai đoạn quân quản kéo dài khoảng nửa năm sau đó, cho đến khi thành phần các bộ giảng dạy và nhân viên từ Bắc vào đông đủ, cũng như sự phân công, chia chác quyền hành trong các ban bệ chấm dứt. Trong giai đoạn nầy, quân đội và công an chỉ tập trung vào việc kiểm kê, phân loại thành phần, truy tìm phản động, và các thành phần có thể tạo ra nguy hiễm cho chế độ.

Thời kỳ quản lý ban đầu

Đa số cán bộ giảng dạy chuyển về trường Sư phạm từ Đại học Sư phạm Vinh, do đó, thành phần người Thanh Nghệ Tỉnh chiếm đa số. Tuy nhiên, cũng có vài cán bộ gốc miền Nam đi tập kết về. Cũng cần phải nói cho rạch ròi là, các cán bộ miền Nam tập kết không được nắm giữ một vai trò chính yếu nào trong các ban học tập, nếu có chỉ là …Phó ban mà thôi, mặc dù điều kiện bằng cấp đôi khi cao hơn vị Trưởng ban. Điều nầy cũng đã soi rọi rõ ràng là người miền Nam khó có thể chen chân vào "hệ thống" cs Bắc Việt.

Ban lãnh đạo của trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn (xin lỗi tôi không thể nào viết được chữ HCM ở đây được) bây giờ là: Hiệu trưởng Trần Thanh Đạm, Hai Hiệu phó là Nguyễn Văn Châu và Cao MInh Thì, Tổ chức cán bộ, Nguyễn Được (bên công an, tên Được có thể tôi nhớ sai, xin các bạn chỉ giáo). Tiếp theo đó là hệ thống quản lý nhân viên hành chánh và nặng nề nhứt là Ban phân phối nhu yếu phẩm…

Sau khi nắm vững lý lịch các giáo sư của "chế độ cũ" do tự khai báo hay do "điềm chỉ viên" của đội quân 30/4, Ban giám hiệu bắt đầu cho niêm yết danh sách cán bộ giảng dạy "lưu dung" (xin thưa đây là "lưu dung" chứ không phải "lưu dụng", nghĩa là Đảng và Nhà nước "dung thứ" cho giảng dạy lại chứ không phải được giảng dạy lại vì chuyên môn hay đã là giao chức cũ!)  

Đó là vào giữa năm 1976.

Trong danh sách niêm yết, hầu hết nhân sự cũ đều được lưu (dung lại)…có lẽ vì Ban Gíam hiệu mới không đủ nhân sự chuyên môn cũng như chưa nắm rõ lề lối giảng dạy trong Nam. Giáo sư Trần Văn Tấn, Quyền Viện trưởng Viện Đại học Sài Gòn, Khoa trưởng Sư Phạm Sài Gòn và GS Nguyễn Văn Trường, chấp chánh hai lần Bộ trưởng Giáo dục của VNCH (nếu kể luôn chánh phủ cuối cùng, ông đã đảm nhiệm chức vụ nầy lần thứ ba) vẫn được giữ lại và dạy cho ban Toán. GS Lý Công Cẩn, một hung thần đối với các sinh viên thân Cộng cũng được phân công phụ trách phòng thí nghiệm Vật lý.

Riêng người viết bài nầy, chỉ giữ chức vụ Trưởng ban Hóa chưa đầy 2 năm của trường, không có tên được "lưu dung" trong danh sách. Và lý do đã được chính Trần Thanh Đạm giải thích như sau:"Vì lý do cách mạng, chúng tôi tạm ngưng công tác giảng dạy của anh trong thời gian quá độ nầy". Điều nầy sau đó, qua sự "rò rỉ" của đám 30/4, được biết lý do rõ ràng là tôi đã nhiều lần hướng dẫn sinh viên tham dự thể thao cấp toàn quốc dành cho sinh viên, hội họp sinh viên Đại học tư lập ờ An Giang, Hòa Hảo, sinh hoạt phối hợp sinh viên Sư phạm và Cao Đài, cùng ủy lạo học sinh bị Việt Cộng pháo kích ở Cao Lậy và Tân Phú. Tại trường, văn phòng tôi luôn rộng mở và tiếp sinh viên bất cứ giờ phút nào. Vì vậy, theo báo cáo ngầm…là tôi có tính "quần chúng". Và tính quần chúng chỉ dành độc quyền của Đảng cs mà thôi. Do đó, tôi cần phải bị triệt hạ. Ngày hôm nay, còn sống để viết lên những điều nầy, quả thật là một may mắn lớn, vì chuyên chính vô sản không thể từ chối một hành động sắt máu nào để tẩy trừ tôi trong trường hợp tranh tối tranh sáng của giai đoạn "tiền thời kỳ quá độ" nầy.

Thời kỳ quản lý ban đầu có thể được tạm ngưng cho đến ngày chuẩn bị thi tuyển (chế độ "ta" gọi là tuyển sinh) vào trường. Đó là gần cuối năm 1976. Sẽ tiếp theo về vấn đề "tuyển sinh" nầy trong bài viết sau.

Thay lời kết  

Qua các sự kiện và phân tích vừa nêu trên và nếu đem so sánh với hiện tình Đất và Nước ngày hôm nay, quả thật chúng ta có thể kết luận ngắn gọn rằng chính sách cai trị và quản lý cùa cs Bắc Việt có tính xuyên suốt từ ngày đầu tiên 1/5/1975 cho đến ngày 2/9/2011 nầy. "Tính xuyên suốt" đó gồm tính "chuyên chính vô sản" và "ba giòng thác cách mạng". Và trong suốt 36 năm qua, chính sách và thành quả của việc xây dựng xã hội chủ nghĩa vẫn là "Vũ Nhu Cẩn" (*) giống như va xảy ra trong năm 1975, 1976…

Ngày hôm nay, sau hơn một năm "học tập tại chỗ" áp dụng cho giáo chức đại học ngay từ đầu, cá nhân tôi, khi viết những dòng chữ nầy cũng vẫn không chiêm nghiệm được…giai đoạn "quá độ" tiến lên chủ nghĩa xã hội hiện nay đang ở giai đoạn nào của ba giòng thác cách mạng? Mà nếu có cắc cớ hỏi 14 ủy viên Bộ chính trị của Đảng CS, tôi tin chắc và khẳng quyết rằng chẳng có Ông(?) nào có khả năng giải thích được "khâu" nầy.

Tuy nhiên, về chuyên chính vô sản, chắc chắn tôi đã thuôc lòng và hiểu được là chính sách nầy đã, đang, và sẽ được Đảng CS Bắc Việt áp dụng triệt cho đến ngày cáo chung của Đảng mà thôi!

Đó là: Giết! Giết! Giết!

Đó là: Thà Giết Lầm Hơn Tha Lầm!    

Ngay ngày đầu tiên khi tiếp thu Hà Nội, trước quảng trường Ba Đình ngày 3/9/1945, Hồ Chí MInh đã công bố:" Từ giờ phút nầy, các em đón nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền giáo dục của một nước độc lập." Thế mà, 66 năm qua, trên con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa, giáo dục hiện tại mang lại cho Việt Nam một xã hội hoàn toàn bị băng hoại, trong đó, Thầy hiếp trò, Cô ngủ với nam sinh…qua những cuộc buôn bán bằng điểm thi, bằng bằng cấp…Học sinh lớp 10 vẫn có đủ khả năng và điềm tĩnh để…giết người, hãm hiếp hay cướp của!

Trẻ em lớp một, trước khi vào trường phải qua một màn thi tuyển và quà cáp hối lộ!

Hàng năm, học sinh từ mẫu giáo, tiểu học, trung học và đại học phải đóng biết bao nhiêu lệ phí hàng tháng….

Những điều trên, lại "hoàn toàn" đi ngược với những Điều lệ ghi trong Hiến pháp Việt Nam là giáo dục cưỡng bách và hoàn toàn miễn phí!

Mùa nầy là mùa nhập học. Kể từ năm 2000, hàng năm dân số Việt Nam tăng từ 1 triệu đến 1,4 triệu. Theo thống kê Liên hiệp quốc, dân số Việt Nam năm 2000 là 77,6 triệu, và thống kê ngày 11/7/2011 là 87 triệu.

Mà từ năm 2000 trở đi, sĩ số học sinh, sinh viên vẫn giữ con số trên dưới 22 triệu (Phó thủ tướng cs Nguyễn Thiện Nhân vừa công bố nhân ngày nhập học niên khóa 2011-2012 là dưới 22 triệu). Những con số trên là một kết quả hùng hồn để chứng minh sự phá sản của hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Một công thần của chế độ trong giai đoạn quân quản, tướng cs Trần Văn Trà, sau khi bị "vắt chanh bỏ vỏ" đã viết một cuốn sách tựa đề "Kết thúc cuộc chiến 30 năm" chê Trung ương "thiếu hiểu biết thực tế sau khi chiếm miền Nam". Cuốn sách đã bị cấm xuất bản. Sau đó, năm 1982, Ông và Nguyễn Hộ cùng đứng ra thành lập Câu lạc bộ những người kháng chiến cũ…Nhưng Câu lạc bộ nầy đã bị giải tán năm 1989. Tuy nhiên, Câu lạc bộ vẫn còn hoạt động bí mật và "nghe đâu" trụ sở đã di chuyển về Long Xuyên, quy tụ thêm nhiều "cựu" kháng chiến cũ khác nữa cùng nhiều thành phần trẻ, trong sạch và còn ưu tư với vận mệnh của đất nước.

Hy vọng những đóm lửa …tàn hơi trên có thể khơi động được làn gió cách mạng Tunisia, Egypt, Libya…và thổi về những cánh sen Đồng Tháp Mười, rải rác trên 700 ngàn mẫu đất, sớt chia sáu tỉnh miền Nam, trung tâm của công cuộc kháng chiến vào những năm 1945.

Mong lắm thay!

Mai Thanh Truyết

Viết trong niềm HY VỌNG                                          

9/2011

 (*) nói lái của chữ "vẫn như cũ"

 

 

 

 

 

Bai Hoc Dau Tien (hieu dinh)

Bài Học Đầu Tiên

Vào thời điểm ngay sau ngày 30/4/1975, tâm trạng người dân hoang mang cực độ. Nhà nhà e dè mỗi khi tiếp xúc hay trao đổi với những người hàng xóm thân thuộc trước kia. Không khí xóm giềng thân mật  không còn ứng hợp với câu "bà con xa không bằng láng giềng gần" nữa, đối lại bằng những cặp mắt nghi ngờ, e sợ, nhất là khi thấy bóng dáng một người quen thuộc nhưng trên cánh tay có mang một băng vải đỏ. Đó là hình ảnh tiêu biểu nhứt cho những ngày đầu gọi là "cách mạng".

Chúng tôi, một nhóm giáo chức của trường Đại học Sư phạm Sài Gòn gồm GS Nguyễn Văn Trường, GS Lý Công Cẩn, GS Lê Trọng Vinh, GS Trần Kim Nở, GS Trần Văn Tấn, và người viết (đã ở khu cư xá 57 Tự Đức từ mấy ngày trước 30/4), đang ngồi với nhau để bàn thảo xem phải hành động như thế nào, trình diện ra sao, vì hôm đó chỉ là ngày thứ hai của "cách mạng", tức thứ năm ngày 1/5/1975.

Tình cờ GS Nguyễn Hoàng Duyên, một thành viên của Ban Hóa học của trường lái Honda đến. Tôi đề nghị với các GS huynh trưởng để tôi cùng Duyên lên trường xem xét tình hình trước.

Hai anh em đèo nhau trên chiếc Honda dame, mỗi người một tâm trạng bất an, nhưng vẫn không lộ ra. Khi vào khỏi cổng trường, không khí hoàn toàn khác, không còn một không khí quen thuộc như ngày nào.  Một cảm giác nặng trĩu nơi tôi khi nhìn thấy một Giảng nghiệm viên thuộc Ban Vạn vật mang băng vải đỏ nơi cánh tay, chận chúng tôi lại, và hỏi với nét mặt lạnh lùng:"Hai anh vào ghi tên trình diện đi".

Bước vào một phòng thí nghiệm hóa học, tôi lại thấy anh Nguyễn Minh Hòa (hiện nay là Trưởng khoa Hóa ĐH Sư phạm "tp HCM", người đã từng tuyên bố là nhờ cách mạng mà vợ tôi mới…mang thai được và tôi có con nối dòng(!)), một giảng nghiệm viên của tôi, cũng mang băng đỏ trên cánh tay hỏi tôi bằng một giọng lạnh lùng, không còn kính trọng như những ngày trước đó. Dĩ nhiên là tôi ghi tên và bước ra ngoài.

Đi lần đến văn phòng Phó Khoa trưởng, cửa mở toang, tôi thấy Mai Hồng Thu, một sinh viên Ban Lý hóa của trường đã chạy vào bưng hai năm về trước. Thu hỏi tôi, trên tay cầm khẩu súng lục nhỏ của GS LCC: "Anh có gặp Ô C. không? Tôi đáp:" GS LCC sẽ vào trình diện sáng nay".

Quan sát chung quanh sân trường, tôi chí thấy vài chị "nhà quê" quấn khăn rằn trên cổ, vẻ mặt thể hiện nét thỏa mản của kẽ chiến thắng bước qua lại, chỉ chỏ các "anh" đeo băng đỏ mà trước đó chỉ vài ngày là những giáo sư của VHCH. Ngoài ra, không thấy bóng dáng của một "cán bộ" hay "bộ đội" của Bắc Việt nào cả.

Tôi và Duyên đi về báo cho các GS đang chờ đợi ở cư xá Tự Đức. Sau đó mọi người lên trường trình diện.

*           *           *

Một tháng sau, mọi sự đi dần vào ổn định, nghĩa là mọi thủ tục kiểm soát, kiểm tra đã hoàn tất, số giáo sư của trường được chia ra làm hai nhóm rõ rệt: 1- Các giáo sư đeo băng đỏ trong những ngày đầu trở thành các Tổ trưởng và Tổ phó học tập trong đó Tôn Nữ Thị Ninh là một Tổ trưởng sáng giá nhứt, và 2- Số giáo sư còn lại chiếm đa số là Tổ viên.

Chúng tôi bắt đầu chương trình "học tập" tại chỗ với mỗi tổ khoảng trên dưới 20 người, trong đó, ngoài Tổ trưởng, Tổ phó còn có một GS hướng dẫn học tập mới vào từ miền Bắc. Nơi trường Sư phạm, các "giáo sư" đó đến từ trương ĐHSP Vinh, trong đó, "một cháu ngoan của Bác" tên Trần Thanh Đạm làm Hiệu trưởng, "GS" Cao Minh Thì làm Hiệu phó, "GS" Nguyễn Văn Châu và một số "GS" khác như Yến, Thoa …và một số khác tôi không còn nhớ tên. Tuy nhiên, một người Trưởng ban tổ chức mà tôi không bao giờ quên được, đó là Bảy Được, một công an chánh gốc, mà sau nầy đã hỏi cung tôi cùng với một sĩ quan cấp tá công an là chồng của giáo sư Yến nói trên.

Dĩ nhiên những buổi học tập trên có tính chất giáo điều, diễn ra trong tẽ lạnh vì thái độ bất hợp tác của đa số giáo sư, ngoài những câu hỏi cò mồi của "đám gs đeo băng đỏ". Tuy  nhiên cũng có những giây phút sôi nổi vì các câu hỏi "móc lò" của một số GS trẻ như Duyên và Tuấn làm cho "đám ba mươi" cứng họng, vì họ làm sao có khả năng giải đáp được trong khi chứa trong đầu một tâm thức nô lệ!

Một kỷ niệm tôi còn nhớ đến hôm nay sau 36 năm là buổi đúc kết học tập. Tổ trưởng của tôi là một tiến sĩ cũng tốt nghiệp bên Pháp và là Phó ban Hóa học của tôi tên Nguyễn Thị Phương.

Tôi được xướng danh đọc bài bài đúc kết học tập đầu tiên. Vì đã chuẩn bị trước, tôi đã nhờ người học trò "ruột" hiện ở Vancouver soạn thảo, ghi lại tất cả những lời "Bác Hồ dạy" "Bác Tôn dạy" cùng các phát biểu của "Chú Duẩn" v.v…Tất cả được học trò tôi đúc kết, ráp nối trên 30 trang giấy…

Và trong suốt buổi đúc kết, tôi là cây đinh trong đó. Tôi đã chiếm hết giờ dành cho Tổ để đúc kết. Do đó, sau khi thảo luận bài đúc kết, vì đã hết giờ cho nên các đồng nghiệp còn lại của tôi được ra về khoan khoái vì đã tránh được nói lên những điều ngược với lòng mình…

Trong suốt những ngày tháng gọi là "học tập", thỉnh thoảng cũng có những cán bộ cao cấp từ ngoài Bắc vào như Cù Huy Cân, Xuân Diệu, và nhiều người khác…giảng dạy về thiên đường cộng sản.

Một hôm, tại giảng đường của Đaị học Khoa học có sức chứa gần 500 người, nhà thơ tình lãng mạn "ngày xưa" Xuân Diệu đăng đàn. Có thể nói, chưa bao giờ tôi có thể hình dung được một cán bộ cao cấp của cộng sản, từng giữ chức Thứ trưởng Văn hóa (?) Bắc Việt có những thái độ và cung cách thiếu văn hóa như thế.

Ông Xuân Diệu, với cái áo sơ mi bò ngoài, mang đôi dép lẹp xẹp, vai mang cái bị da cán bộ…chễm chệ ngồi trên cao…tự do phát ngôn. Bên cạnh đó hai chai bia Con Cọp BGI 75cc và một ly lớn. Vừa uống, vừa nói, tay chân "quênh hoang" với luận điệu của kẽ chiến thắng…

Và những câu nói ngày hôm đó là bài học …đầu tiên của tôi sau "cách mạng" như tựa đề của bài viết nầy và hình ảnh cây cổ thụ minh họa.

Ông ta nói cái gì?

Xin thưa,

Ông ta chê chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là giới trí thức miền Nam, giới giáo sư đại học…và ví tất cả như những cây cổ thụ xum xuê cành là…nhưng không có rễ. (Xin các giáo sư có mặt ngày hôm đó, hiện đang ở hải ngoại làm chứng dùm cho tôi, kẽo tôi bị nói oan là bêu xấu chế độ ưu việt bằng triệu lần tư bản).

Sau 36 năm, nghiệm lại câu nói năm xưa của một thi sĩ "thương cha thương một, thương ông thương mười"của Tố Hữu, người bạn của Xuân Diệu, lòng tôi chùng xuống và cảm thương cho một người lớn lên trong "cách mạng", được "cách mạng" nuôi dưỡng… cho nên mới có ý so sánh đầy 'biện chứng" trên.

Ba mươi sáu năm qua, bây giờ cả thế giới mới thực sự thấy rõ hình ảnh Việt Nam ngày nay, hình ảnh nầy đã chứng minh rành rành qua một đất nước tan hoang từ xã hội băng hoại cho đến đạo đức suy đồi, trong đó giáo dục thể hiện tất cả những gì tồi tệ nhứt như thầy trò, cô trò…có thể trao thân vì những đổi chác cho một kỳ thi, hay một mãnh bằng, chưa kể những tệ hại khác không cần phải nêu ra đây. Có thể nói trong lịch sử giáo dục Việt Nam chưa có thời đại nào đưa đến sự đão lộn luân thường đạo lý như giai đoạn hiện tại của Đất và Nước như hôm nay.

Bài học đầu tiên của Xuân Diệu 36 năm về trước về cây cổ thụ cần phải được xem xét lại.

Kết luận của bài tản mạn nầy cần phải nói cho rốt ráo là "Cây cổ thụ xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện tại là một cây chết khô, không hoa, không lá, không rễ, và thân cây đã mục nát, thậm chí mối và mọt cũng không còn gì có thể gậm nhấm được".

Mai Thanh Truyết

Bài đầu tiên của thời "gác kiếm"

8/2011

Bài học đầu tiên

Bài Học Đầu Tiên

Vào thời điểm ngay sau ngày 30/4/1975, tâm trạng người dân hoang mang cực độ. Nhà nhà e dè mỗi khi tiếp xúc hay trao đổi với những người hàng xóm thân thuộc trước kia. Không khí xóm giềng thân mật  không còn ứng hợp với câu "bà con xa không bằng láng giềng gần" nữa, đối lại bằng những cặp mắt nghi ngờ, e sợ, nhất là khi thấy bóng dáng một người quen thuộc nhưng trên cánh tay có mang một băng vải đỏ. Đó là hình ảnh tiêu biểu nhứt cho những ngày đầu gọi là "cách mạng".

Chúng tôi, một nhóm giáo chức của trường Đại học Sư phạm Sài Gòn gồm GS Nguyễn Văn Trường, GS Lý Công Cẩn, GS Lê Trọng Vinh, GS Trần Kim Nở, GS Trần Văn Tấn, và người viết (đã ở khu cư xá 57 Tự Đức từ mấy ngày trước 30/4), đang ngồi với nhau để bàn thảo xem phải hành động như thế nào, trình diện ra sao, vì hôm đó chỉ là ngày thứ hai của "cách mạng", tức thứ năm ngày 1/5/1975.

Tình cờ GS Nguyễn Hoàng Duyên, một thành viên của Ban Hóa học của trường lái Honda đến. Tôi đề nghị với các GS huynh trưởng để tôi cùng Duyên lên trường xem xét tình hình trước.

Hai anh em đèo nhau trên chiếc Honda dame, mỗi người một tâm trạng bất an, nhưng vẫn không lộ ra. Khi vào khỏi cổng trường, không khí hoàn toàn khác, không còn một không khí quen thuộc như ngày nào.  Một cảm giác nặng trĩu nơi tôi khi nhìn thấy một Giảng nghiệm viên thuộc Ban Vạn vật mang băng vải đỏ nơi cánh tay, chận chúng tôi lại, và hỏi với nét mặt lạnh lùng:"Hai anh vào ghi tên trình diện đi".

Bước vào một phòng thí nghiệm hóa học, tôi lại thấy anh Nguyễn Minh Hòa (hiện nay là Trưởng khoa Hóa ĐH Sư phạm "tp HCM", người đã từng tuyên bố là nhờ cách mạng mà vợ tôi mới…mang thai được và tôi có con nối dòng(!)), một giảng nghiệm viên của tôi, cũng mang băng đỏ trên cánh tay hỏi tôi bằng một giọng lạnh lùng, không còn kính trọng như những ngày trước đó. Dĩ nhiên là tôi ghi tên và bước ra ngoài.

Đi lần đến văn phòng Phó Khoa trưởng, cửa mở toang, tôi thấy Mai Hồng Thu, một sinh viên Ban Lý hóa của trường đã chạy vào bưng hai năm về trước. Thu hỏi tôi, trên tay cầm khẩu súng lục nhỏ của GS LCC: "Anh có gặp Ô C. không? Tôi đáp:" GS LCC sẽ vào trình diện sáng nay".

Quan sát chung quanh sân trường, tôi chí thấy vài chị "nhà quê" quấn khăn rằn trên cổ, vẻ mặt thể hiện nét thỏa mản của kẽ chiến thắng bước qua lại, chỉ chỏ các "anh" đeo băng đỏ mà trước đó chỉ vài ngày là những giáo sư của VHCH. Ngoài ra, không thấy bóng dáng của một "cán bộ" hay "bộ đội" của Bắc Việt nào cả.

Tôi và Duyên đi về báo cho các GS đang chờ đợi ở cư xá Tự Đức. Sau đó mọi người lên trường trình diện.

*           *           *

Một tháng sau, mọi sự đi dần vào ổn định, nghĩa là mọi thủ tục kiểm soát, kiểm tra đã hoàn tất, số giáo sư của trường được chia ra làm hai nhóm rõ rệt: 1- Các giáo sư đeo băng đỏ trong những ngày đầu trở thành các Tổ trưởng và Tổ phó học tập trong đó Tôn Nữ Thị Ninh là một Tổ trưởng sáng giá nhứt, và 2- Số giáo sư còn lại chiếm đa số là Tổ viên.

Chúng tôi bắt đầu chương trình "học tập" tại chỗ với mỗi tổ khoảng trên dưới 20 người, trong đó, ngoài Tổ trưởng, Tổ phó còn có một GS hướng dẫn học tập mới vào từ miền Bắc. Nơi trường Sư phạm, các "giáo sư" đó đến từ trương ĐHSP Vinh, trong đó, "một cháu ngoan của Bác" tên Trần Thanh Đạm làm Hiệu trưởng, "GS" Cao Minh Thì làm Hiệu phó, "GS" Nguyễn Văn Châu và một số "GS" khác như Yến, Thoa …và một số khác tôi không còn nhớ tên. Tuy nhiên, một người Trưởng ban tổ chức mà tôi không bao giờ quên được, đó là Bảy Được, một công an chánh gốc, mà sau nầy đã hỏi cung tôi cùng với một sĩ quan cấp tá công an là chồng của giáo sư Yến nói trên.

Dĩ nhiên những buổi học tập trên có tính chất giáo điều, diễn ra trong tẽ lạnh vì thái độ bất hợp tác của đa số giáo sư, ngoài những câu hỏi cò mồi của "đám gs đeo băng đỏ". Tuy  nhiên cũng có những giây phút sôi nổi vì các câu hỏi "móc lò" của một số GS trẻ như Duyên và Tuấn làm cho "đám ba mươi" cứng họng, vì họ làm sao có khả năng giải đáp được trong khi chứa trong đầu một tâm thức nô lệ!

Một kỷ niệm tôi còn nhớ đến hôm nay sau 36 năm là buổi đúc kết học tập. Tổ trưởng của tôi là một tiến sĩ cũng tốt nghiệp bên Pháp và là Phó ban Hóa học của tôi tên Nguyễn Thị Phương.

Tôi được xướng danh đọc bài bài đúc kết học tập đầu tiên. Vì đã chuẩn bị trước, tôi đã nhờ người học trò "ruột" hiện ở Vancouver soạn thảo, ghi lại tất cả những lời "Bác Hồ dạy" "Bác Tôn dạy" cùng các phát biểu của "Chú Duẩn" v.v…Tất cả được học trò tôi đúc kết, ráp nối trên 30 trang giấy…

Và trong suốt buổi đúc kết, tôi là cây đinh trong đó. Tôi đã chiếm hết giờ dành cho Tổ để đúc kết. Do đó, sau khi thảo luận bài đúc kết, vì đã hết giờ cho nên các đồng nghiệp còn lại của tôi được ra về khoan khoái vì đã tránh được nói lên những điều ngược với lòng mình…

Trong suốt những ngày tháng gọi là "học tập", thỉnh thoảng cũng có những cán bộ cao cấp từ ngoài Bắc vào như Cù Huy Cân, Xuân Diệu, và nhiều người khác…giảng dạy về thiên đường cộng sản.

Một hôm, tại giảng đường của Đaị học Khoa học có sức chứa gần 500 người, nhà thơ tình lãng mạn "ngày xưa" Xuân Diệu đăng đàn. Có thể nói, chưa bao giờ tôi có thể hình dung được một cán bộ cao cấp của cộng sản, từng giữ chức Thứ trưởng Văn hóa (?) Bắc Việt có những thái độ và cung cách thiếu văn hóa như thế.

Ông Xuân Diệu, với cái áo sơ mi bò ngoài, mang đôi dép lẹp xẹp, vai mang cái bị da cán bộ…chễm chệ ngồi trên cao…tự do phát ngôn. Bên cạnh đó hai chai bia Con Cọp BGI 75cc và một ly lớn. Vừa uống, vừa nói, tay chân "quênh hoang" với luận điệu của kẽ chiến thắng…

Và những câu nói ngày hôm đó là bài học …đầu tiên của tôi sau "cách mạng" như tựa đề của bài viết nầy và hình ảnh cây cổ thụ minh họa.

Ông ta nói cái gì?

Xin thưa,

Ông ta chê chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là giới trí thức miền Nam, giới giáo sư đại học…và ví tất cả như những cây cổ thụ xum xuê cành là…nhưng không có rễ. (Xin các giáo sư có mặt ngày hôm đó, hiện đang ở hải ngoại làm chứng dùm cho tôi, kẽo tôi bị nói oan là bêu xấu chế độ ưu việt bằng triệu lần tư bản).

Sau 36 năm, nghiệm lại câu nói năm xưa của một thi sĩ "thương cha thương một, thương ông thương mười" lòng tôi chùng xuống và cảm thương cho một người lớn lên trong "cách mạng", được "cách mạng" nuôi dưỡng… cho nên mới có ý so sánh đầy 'biện chứng" trên.

Ba mươi sáu năm qua, bây giờ cả thế giới mới thực sự thấy rõ hình ảnh Việt Nam ngày nay, hình ảnh nầy đã chứng minh rành rành qua một đất nước tan hoang từ xã hội băng hoại cho đến đạo đức suy đồi, trong đó giáo dục thể hiện tất cả những gì tồi tệ nhứt như thầy trò, cô trò…có thể trao thân vì những đổi chác cho một kỳ thi, hay một mãnh bằng, chưa kể những tệ hại khác không cần phải nêu ra đây. Có thể nói trong lịch sử giáo dục Việt Nam chưa có thời đại nào đưa đến sự đão lộn luân thường đạo lý như giai đoạn hiện tại của Đất và Nước như hôm nay.

Bài học đầu tiên của Xuân Diệu 36 năm về trước về cây cổ thụ cần phải được xem xét lại.

Kết luận của bài tản mạn nầy cần phải nói cho rốt ráo là "Cây cổ thụ xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện tại là một cây chết khô, không hoa, không lá, không rễ, và thân cây đã mục nát, thậm chí mối và mọt cũng không còn gì có thể gậm nhấm được".

Mai Thanh Truyết

Bài đầu tiên của thời "gác kiếm"

8/2011

AAPress Minnesota

Scientist wants Vietnam to save its environment from disaster

0 Comments 16 July 2011

AAP staff report

ST. PAUL, Minn. – As a scientist working in the area of wastewater treatment Mai Thanh Truyet, Ph.D. has also turned his attention to what he says are serious environmental issues of his native Vietnam.

Having already earned a doctorate at the Besançon in Eastern France, Dr. Truyet came to the United States as a boat refugee from Vietnam. He continued his postdoctoral work with the study red blood cells at the University of Minnesota Medical School from 1985-87, before moving his family to California to work in the environmental area.

With a successful career as a scientist working on American water systems for several years, Dr. Truyet continues to work at age 69, while also taking a deep interest at the array of challenges facing Vietnam, from food and agriculture, to clean water and the environment. He has written extensively on wastewater issues in Vietnam, including ground water and pollution ­– with a resourcefulness for previously unknown data that has impressed readers of his books.

"The data was provided by friends who are still working and living in Vietnam," he said. "Since 1999 to 2002, every time a friend or family member came back to visit Vietnam I would ask them to collect soil and water samples in the north and south – especially the Mekong delta – to do analysis and to make suggestions and conclusions especially for the arsenic issues."

Truyet said that to understand the arsenic issue in Vietnam, just compare it to similar problems in Bangladesh and Tibet. There, scientists studied water from 4 million wells and discovered levels of arsenic so strong and in Tibet area found in water that they anticipate cancer related deaths far above the norm in those areas.

Truyet said that his conclusions on Vietnam got him branded as a troublemaker by the Vietnamese government. "People are getting arsenicosis," he added.

The arsenic comes from two sources, the Mekong river starts in high Tibet, where the soil has a lot of arsenic in it, and it is brought down river in low concentrations. Now the combination of borax that is being disturbed with mining and increasing the levels many times over.

"Another source is arsenic herbicide and pesticides in very high concentrations," he added. "Right now to increase the development of food they spray a lot of extra fertilizers, pesticides and herbicides and that puts arsenic into the groundwater."

Truyet said the Vietnamese need to do a lot more education on the safe use of chemicals. This is important when you consider the export of rice, catfish, shrimp and other products, he added.

In addition, Truyet said there needs to be more agricultural and water treatment training for better crop rotation and soil preservation practices. The U.S. has already sued Vietnam over "dumping" of large amounts of fish and seafood – but less is said about the long term impact on the high levels of harvesting, he added.

Truyet said that his motivation in also to help as a resource for Vietnamese scientists and engineers, who he said are not always will to freely express their professional opinion if they feel it will conflict with the goals of the communist government.

He said Vietnam has experienced wartime pollution but that by in large the pollution today is a result or poor civic and industrial planning and is not a remnant of the war that ended more than three decades ago.

"For Vietnam the situation is different," said Truyet. "There, any industry or enterprise does not have any treatment plan and waste water go to the canals and rivers, and that is why it becomes a black river."

As an environmentalist and president of the Science and Technology Association, Truyet has completed studies since 1995 that have been published. His latest book, Moi Truong Viet Nam, published by the Vietnamese American Medical Research Foundation, discusses various environmental challenges in detail over 25 chapters.

From dangerously high arsenic levels in the Mekong river, to the conditions turning other sea connected waterways in black rivers (completely polluted).

"There is not threshold limit," he said. "There is no way to clear up a river like we do in the USA."

Truyet goes on to discuss fresh water and underground issues in subsequent chapters, and then goes into soil and air pollution. He has an entire chapter devoted to solid waste problems and landfill and a wastewater treatment plan.

"I talking about biological and solid waste, and about Vietnam importing electronic waste from United States," he said.

The business of electronic waste has not regulations, he added. They dispose of television screens and monitors and computer hardware that can leaves up to a pound of lead and mercury poisoning depending on the component.  He said the large and uncontrolled landfills are showing signs of absorbing heavy metals, and making its way to the water used for consumption and irrigation.

"After that it becomes very hazardous and toxic waste," he said. "Especially when we are talking about food poisoning and additives with chemicals like this, this is a dangerous situation for Vietnamese community."

Truyet revisits the claims of Agent Orange and the new evidence about dioxin issues since their peak use from 1961 to 1971 as part of Operation Ranch Hand, a U.S. Army mission to defoliate areas south of 17th Parallel during the Vietnam War.

He was a witness for Dow Chemical, the company that provided the chemical munitions for the U.S. military in the war, in the 2005 lawsuit in which the Vietnamese government claimed the United States was responsible for damages to the environment and people and decided to go after 34 manufacturers for war crimes.

The suit was dismissed and Truyet said that these chemical had half lifes and that it is difficult to claim an impact would have lasted more than seven years into the present day. He also said the area that chemical were used was limited and largely along the 17th parallel.

Truyet went on to talk about bauxite and uranium mining in Vietnam, and how he proved that the Chinese had a plan in Vietnam to develop and extract bauxite mining in the Vietnamese highlands. He said they covered up planning the and research to extract uranium after the International Council on Energy found about 200,000 tons of uranium oxide in the highland with concentration of .006 percent.

"This purity is similar to South Africa," he added. "The Americans and the Japanese did the research."

Truyet went so far as to suggest that the uranium exploration is connected to the dislocation issues of the 15 ethnic groups that live in the highlands is related to their forced removal.

The population of Vietnam was about 45 million after the war and it is approaching 90 million today, said Truyet. This is over population, he added, and depending and the migration of people from one region to another is another impact on the environment and resources.

The last three chapters look to the future development in Vietnam and the expectations for the Vietnam government in joining the international community. He offers suggestions on how to best do business in Vietnam in ways that will take care of people.

Truyet is confident that his publications in Vietnamese are making its way to the right people in Vietnam via the Internet. The young people understand and react, he said. The older communists from the revolution do not was to hear it.

He also takes his message to Voice of America and Radio Free Asia. It has cost him in that the Vietnamese government has not responded to his visa requests to visit.

 

Environment Impacts in Viet Nam

Environmental Problems in Vietnam Conference

0 Comments 05 June 2011

By Mai Hoang

ST. PAUL, Minn. (May 28, 2011) – The threat to the environment and controlling contamination of the air, land and water is the paramount issue facing the health and livelihood of people in Vietnam today.  This issue is not isolated to Vietnam, but is connected abroad to Southeast Asia and all the way to the source of water in the mountains of Tibet. It is also spread with the manufacturing and source items of food products.

In connection with Asian Heritage Month this May, the Vietnamese Community of Minnesota offered a special conference last Saturday at the Vietnam Center in St. Paul. A number of Vietnamese community gathered to listen to a presentation and discussion on a variety of environmental issues facing Vietnam.

Mai Thanh Truyet, Ph.D., an environmentalist and president of the Science and Technology Association, and a specialist on water waste treatment in California, brought a PowerPoint presentation, and copies of his book that are based on his research on Vietnam's issues with food, agriculture, the environment, water, wastewater and pollution.

Mai Thanh Truyet, Ph.D.

Dr. Mai explained that the Chinese government had built many dams and that it has impacted Vietnam with water shortages from the Mekong River to the lower land of Laos, Cambodia and Vietnam. The seawater now is absorbing the farming land and rivers of Vietnam that reduces resource for humans, animals and vegetation.

In the area of solid waste, he said that the two common approaches applied in Vietnam now are to bury the solid waste in the ground and to use the process of bio-degradation. They are not safe and less effected. He also cautioned the audience about the importation of disposed materials from other counties to recycle may make Vietnam as a dumping site of the world.

A number of pollution topics were presented and a focus on the food products seemed to intrigue the audience which as several questions following the presentation with discussion and suggestion.

 

Anh Le Van Khoa

Anh Khoa của tôi

 

Thưa Anh,

Việt Hải có mời tôi viết một bài về Anh. Nhưng thú thật tôi không dám viết, vì trước hết tôi không có một khái niệm cùng hiểu biết nào hết về âm nhạc, cũng như tôi cũng chưa biết hết về anh trong lãnh vực nầy ngoài những dĩa nhạc hòa tấu kiểu tân nhạc cũng như cổ điển mà anh đã cho.

Trong thời gian gần đây, mình gặp nhau thường xuyên hơn, trao đổi nhau thường xuyên hơn cũng như những buổi gặp mặt thân mật tại nhà anh hay nhà tôi để rồi sau đó tiếng hát của chị Ngọc Hà, phân nửa của thân thể anh vang lên trong đêm thâu càng làm tăng thêm không khí thân mật giữa bạn bè.

Hai anh em mình nằm trong hai lãnh vực hoàn toàn khác nhau, âm nhạc và khoa học. Nhưng trên thực tế sự đồng cảm dường như thể hiện sau nhiều trao đổi, nhứt là sau khi được nghe anh kể chuyện về những chuyến đi biểu diễn ở các nơi, đặc biệt chuyến đi Ukraina. Và những câu chuyện anh kể bên lề về chuyến đi nầy đã làm gợi ý cho tôi viết về anh.

Thưa Anh,

Anh là một nười miền Nam, nơi dòng sông cửu cuồn cuộn chảy nhưng nguồn nhạc nơi anh khơi nguồn từ những nét nhạc êm dịu. Cũng có những lúc dồn dập, nhưng cái dồn dập đó chỉ làm khơi dộng lòng người…chứ không gây ngạc nhiên hay làm người nghe giựt mình. Nhạc của anh không hẳn là nhạc cổ điển Tây phương hay cổ nhạc Việt Nam. Nhạc của anh cũng không là tân nhạc…nhưng nhạc của anh dường như pha lẫn nhiều dòng nhạc khác nhau từ khắp nơi trộn lẫn theo âm điệu của lối hòa âm độc đáo của riêng anh.

Anh có thể hòa âm một bài nhạc cổ điển Tây phương theo âm điệu của các nhạc cụ cổ điển Việt Nam và ngược lại, một bài nhạc dân tộc Việt Nam với các nhạc khí Tây phương.

Thưa Anh,

Tôi không biết anh có học theo trường lớp nào? Theo hệ phái nào? Như có điều tôi chắc chắn rắng hồn nhạc của anh mênh mang, không có giới hạn của ranh giới địa dư hay không gian. Vì dốt nhạc, cho nên tôi không có khả năng mô tả nhạc của anh một cách rạch ròi, nhưng tôi có thể nói theo suy nghĩ chủ quan của tôi là anh có một tâm hồn nhạc lay láng. Và cũng chính nhờ "cái lay láng" nầy mà anh gây động được sự đồng cảm của người nghe dù là người Việt hay người ngoại quốc.

Anh đã chuyển tải âm điệu nhạc Việt Nam đi khắp nơi, và chính nhờ vậy mà thế giới đã tìm biết được nơi mãnh đất hình chữ S xa xôi dù đang khổ sở điêu linh với bạo quyền vẫn còn những âm thanh êm dịu của một người con xa xứ cố gắng mang lại vài phút giây xoa dịu tâm hồn con dân Việt.

Mặc dù tuổi anh đã hơn nửa chừng xuân của thời thất thập cổ lai hy, trông anh vẫn còn khỏe mạnh và chững chạc trong khi điều khiển ban nhạc. Những động tác của anh nói lên ý chí …vượt thoát, vượt thoát ra ngoài khuôn mẩu cổ điển của người nhạc trưởng. Tôi không biết mô tả như thể nào, nhưng mỗi khi nhìn anh trong những giây phút nầy dường như anh không còn …là anh nữa.

Anh đã thăng hoa vào cõi nhạc đâu đây!

Thưa Anh Khoa,

Không biết nói gì thêm, nhưng anh Khoa ơi! Có phải anh được sanh ra do sự giao thoa của Trời Đất hay anh đã cùng Trời Đất giao thoa với nhau mỗi khi anh trình bày một bản hòa tấu mới?

Hay nói một cách khác Anh đã cột Nhạc vào anh hay Nhạc đã cột Anh?

Chúc Anh đi trọn con đường nhạc của anh.

Thân kính

Mai Thanh Truyết

 

Tuoi Tre Viet Nam

Cùng Tuổi Trẻ Việt Nam

 

Kể từ tháng sáu vừa qua và ở mỗi chủ nhựt, không khí cách mạng đã bắt đầu khơi mào cho một cuộc chuyển mình mới của Đất và Nước. Quả thật vậy, Tuổi Trẻ Việt Nam đã nhận lãnh trách nhiệm và quyết tâm đứng lên Cứu Nước.

Tin tức, hình ảnh trên internet ngày càng dồn dập. Hình ảnh người cha đội con trên đầu đi biểu tình. Hình ảnh một cô gái trẻ đẹp với chiếc áo dài trắng hô vang khẩu hiệu Trường Sa và Hoàng Sa là của Việt Nam v.v….

Tất cả làm nức lòng người dân trong nước và hải ngoại!

Từ phương xa, cá nhân tôi xin nghiệng mình và ngưỡng mộ sự can đảm của Tuổi trẻ đã dám đứng lên "bắt đầu" làm lịch sử, bất chấp những cú đá, cái đạp của tên Đại úy công an CS Minh. Chính cái đạp nầy, cái đá trên sẽ làm tăng thêm niềm tin của Tuổi Trẻ và chứng minh được chính nghĩa quốc gia và dân tộc cũng như sự sợ hãi của cường quyền. Và chắc chắn lịch sử dân tộc sẽ không quên "khắc ghi" hành động dã man hơn súc vật nầy.

Cùng các em thân mến,

Dù muốn dù không các em đã đứng lên, và chỉ sẽ dừng lại khi dân tộc thực sự có tự do…

Nhìn lại gần hai tháng, chúng ta đã làm được những gì trong những ngày chủ nhựt vừa qua?

Chúng ta đã quy tụ đặc biệt tại Hà Nội và Sài Gòn. Các bạn đã không còn sợ hãi những đòn thù như của tên Minh…Nhưng các bạn còn những e dè trong khi đứng dậy lên tiếng. Các bạn còn xử dụng là cờ máu cs, mặc áo có cờ máu …để làm "cái khiêng" che chở cho các bạn.

Nhưng thử hỏi dù có hay không các cái khiêng ấy, các bạn vẩn bị lôi kéo, đánh đập… mỗi lần chạm trán với công an. Chính vì vậy, đề nghị các bạn trong những lần tới không cần phải xử dụng những chiếc "khiêng" bất khiển dụng nầy nữa.

Các bạn hãy đứng vững như cô gái mặc áo dài trắng ngang nhiên bày tỏ lòng yêu nước.

Tại sao các bạn lại đi quanh bờ hồ mà không tiến thẳng vào nơi cư trú chính thức của quân xâm lược?. Đó là đầu não của sự xâm lược. Đó là tòa Đại Sứ Trung Cộng.

 

Thưa các bạn,

Càng hống hách, càng áp chế, TC chỉ hành xử như thế đối với Việt Nam chính là để thứ nhứt, khích động tinh thần quốc gia cực đoan của Đại Hán, sau nữa, là trấn an và trấn áp những xáo trộn những khó khăn trầm trọng mà TC đang đối mặt ở quốc nội. Đó là:

 

  • Xã hội đang xáo trộn trầm trọng vì nạn lạm phát;
  • Kinh tế bế tắc vì sản xuất thặng dư và không xuất cảng được;
  • Khoàng cách giàu nghèo ngày càng cách xa;
  • Con số người dân bất mãn và đứng lên biểu tình đòi quyền lợi và nguồn sống căn bản ngày càng cao lên;
  • Dân Tây Tạng bắt đầu đứng lên cả trong và ngoài nước;
  • Tân Cương dồn dập qua các cuộc biểu tình đập phá trụ sở công an;
  • Nội Mông cũng đã đứng dậy;
  • Và sau cùng, viễn tượng xâu xé nội bộ khiến cho TC trở thành Đông Châu Liệt Quốc không phải là không có căn cứ!

Vì vậy xin đề nghị với các bạn trong những lần biểu tình sắp đến:

 

  • Đi biểu tình không cần mang cờ máu theo làm "khiêng" che chở;
  • Đi thẳng vào căn cứ địa cùa TC. Đó là Tòa Đại sứ và Tổng Lãnh sự;
  • Thiết lập nhiều khẩu hiệu báo trước sự sụp đổ và tan rã của Đế quốc Đại Hán.

 

Thưa các bạn,

Không có cuộc cách mạng nào mà không có đổ máu.

Phản ứng của cường quyền càng khốc liệt bao nhiêu chứng tỏ rằng sự sợ hãi của chúng càng tăng cao và báo hiệu cho một ngày cáo chung của chế độ không còn xa nữa.

Chúc các bạn vững tâm tranh đấu.

Ngày Việt Nam có tự do, dân chủ và nhân quyền đã cận kề.

Người Việt hải ngoại đặt trọn niềm tin vào các bạn, Tuổi Trẻ Việt Nam.

 

Mai Thanh Truyết

PCT Đại Việt

7/2011

 

 

 

//////////////////////////////////////////////////