VAST-Chiều hướng đấu tranh- Trần CẢnh Xuân

Mục Tiêu Và Phương Thức Đấu Tranh

 

Qua những nhận định và phân tích của các diễn giả vừa trình bày về các đề tài liên quan đến việc khai thác Bauxite và Uranium chúng ta có thể nhận thấy âm mưu thôn tính Việt Nam của Cộng Sản Trung Quốc.

Chúng ta biết rằng Công Sản VN rất sợ mất quyền lợi của Đảng và của những người cầm quyền hiện đang có cơ hội vơ vét và tham nhũng. Do đó CSVN đã hiến dâng tài nguyên quốc gia cho CSTQ. Ngoài ra CSTQ còn là chủ nợ và ân nhân của CSVN trong suốt gần nửa thế kỷ qua trong tiến trình xâm chiếm Miền Nam. CSVN coi tài sản quốc gia là tài sản riêng của đảng. Do đó, mọi quyết định liên hệ đến tài sản quốc gia như nhượng đất, nhượng quyền khai thác tài nguyên đều do nhà cầm quyền đơn phương thực hiện mà người dân không có quyền và cũng không có ý kiến.

Để đối phó với tình trạng hiện nay:

  • Chúng ta phải sử dụng mọi phương tiện truyền thông trên mạng, truyền thanh, truyền hình , báo chí nhằm gây ý thức cho quần chúng. Chúng ta vẫn kêu gọi lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm của người dân Việt trước âm mưu thôn tính của TC.
  • Chúng ta cần cho nhà cầm quyền CSVN biết rằng tiếng nói của người dân là sức mạnh để bảo vệ đất nước và là quyền tối thượng căn bản của người dân.
  • Chúng ta cần phổ biến bài viết và phê bình có tính cách khoa học. Cập nhật hóa các tin tức liên hệ đến mọi diễn tiến liên quan đến việc khai thác tài nguyên hiện nay của CSTQ. Một điều quan trọng là chúng ta cần phối hợp với các tổ chức dân chủ trong nước để hướng dẫn dư luận thuận tiện cho cuộc đấu tranh.
  • Trên phương diện đối ngoại chúng ta phải vận động thế giới tẩy chay hàng hóa của CSTQ. Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã biết rõ thực phẩm tại TQ có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người. Lý do là TC chỉ biết thu lợi mà không bản đảm tiêu chuẩn căn bản vể an toàn vệ sinh thực phẩm và nhứt là không tôn trọng các điều cam kết của hiệp ước Mậu Dịch Quốc Tế (WTO).
  • Chúng ta cần kêu gọi sự yểm trợ của thế giới tự do trước chiến lược xâm chiếm VN của CSTQ. Với tham vọng bá quyền của CSTQ hiện nay, nếu TQ đạt được ý định  xâm chiếm VN qua việc khai thác tài nguyên thiên nhiên thì VN sẽ là bàn đạp để CSTQ gây ảnh hưởng và khống chế các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á như Thái Lan, Cam Bốt, Miến Điện, Singapore, Mã Lai và Phi Luật Tân. Vì vậy chúng ta phải vận động các quốc gia đó để tái lập tổ chức Phòng Thủ Đông Nam Á (SEATO) với sự tham gia và hỗ trợ của các nước Tân Tây Lan, Úc Châu và nhất là Hoa Kỳ. Nói đến Hoa Kỳ người Việt sống trên đất Mỹ cũng hiểu rằng chúng ta là người Mỹ . Với tư cách đó chúng ta cũng cần cho nhà cầm quyền Mỹ hiểu rằng CSTQ đang củng cố lực lượng quân sự, kinh tế, và chính trị để đối đầu và có thể sẽ khống chế nước Mỹ và người Mỹ trong đó có hàng triệu người Mỹ gốc Việt như chúng ta.

Chúng tôi kêu gọi người Việt mọi thành phần, mọi khuynh hướng chính trị, mọi đảng phái và mọi hội đoàn hãy cùng nhau kết hợp tận lực gây ý thức hiểm họa của CSTQ không những đối với VN mà cho cả thế giới. Chúng tôi kêu gọi các đại biểu Tiểu Bang và Liên Bang tiếp tay tranh đấu nhằm chận đứng mưu đồ của CSTQ hiện nay.

Trở lại nhà cầm quyền CSVN, chúng ta sẽ phải làm gì đối với vai trò của họ trong việc nhượng đất ở phương Bắc, nhượng các đảo ở biển Đông và hiện nay nhượng luôn miền cao nguyên ngay trong lãnh thổ VN. Chúng ta đừng quên rằng mục tiêu tối hậu của chúng ta là đảng CSVN và nhóm lãnh đạo đang cầm quyền và nắm vận mạng của người dân Việt. Đảng CSVN đã độc đoán và độc quyền quyết định bán nước để trả nợ chiến tranh trong thời gian tiến chiếm Miền Nam.

Chúng ta phải vạch cho toàn dân VN thấy rõ trách nhiệm của người CSVN trong việc bán đất và nhượng đất cho CSTQ. Người CSVN có lương tri phải nhận lấy trách nhiệm và phải biết tủi nhục đối với đất nước. Họ còn kịp thời chuộc tội bằng cách nhận lấy trách nhiệm, biết sửa sai và chịu tái lập chế độ dân chủ thật sự cho dân VN. Họ phải biết tự giải thể để chấm dứt chế độ thống trị của nhóm đảng viên cuồng tín, giáo điều, độc đoán, hủ lậu, đã gây chết chóc và tội lỗi đối với tổ tiên và dân tộc.

Do đó mục tiêu tranh đấu và đối tượng chính yếu của chúng ta là người CSVN. Chính họ đã tước đoạt mọi quyền căn bản của người dân nhất là quyền bảo vệ đất nươc.

Chỉ có một chính quyền không Cộng Sản , không nô lệ và không mắc nợ CSTQ mới có quyền tự do quyết đinh vận mạng của đất nước để đưa nước Việt Nam ra khỏi hiểm họa của CSTQ.

Mục đích tranh đấu chống CSTQ là để cứu nước, và không có nghĩa là để giúp cho CSVN tồn tại và tiếp tục ngự trị trên nước VN vì cả hai chế độ CSVN và CSTQ đều là chướng ngại cho sự phát triển kinh tế và tự do của dân tộc VN.

 

Trần Cảnh Xuân

Bauxite: Ảnh hưởng Văn hóa và Xã hội

 

Bauxite: Vấn Đề Bảo Tồn Văn Hóa và Sắc Tộc người thiểu số

             (Phát biểu nhân ngày Hội thảo do VAST tổ chức ngày 22/11/2009 tại Westminster,CA)

 

 

Tóm lược: Người thiểu số miền Cao nguyên rất nhạy cảm và có mặc cảm đối với người Kinh (Việt Nam). Với diện tích Cao nguyên ngày càng thu hẹp vì di dân, từ 1,4 triệu trước năm 1975 cho đến 4 triệu hiện nay, người Thượng có khuynh hướng ngày càng rút sâu vào hướng Tây, đôi khi vượt qua biên giới Lào và Cambodia.

 

Mật độ người Thượng trước năm 1975 chiếm khoảng 90%. Ngày nay, chỉ còn ước tính khoảng 400 ngàn sinh sống ở vùng Cao nguyên Trung phần Việt Nam. Điều nầy nói lên việc khai thác quặng mõ bauxite tại vùng nầy càng làm cho sự việc càng nghiêm trọng hơn đối với họ. Theo thống kê của World Bank năm 2008, tỷ số người Thượng hiện đang sống dưới mức nghèo đói là 72%.

 

Đối với những người ở lại bám trụ, vì đất canh tác càng bị thu hẹp, gia đình có nguy cơ làm không đủ ăn. Do đó, các lao động chính của gia đình cần phải tha phương cầu thực. Vô hình chung, gia đình sẽ bị xáo trộn và có thể đưa đến ly tan. Con cái của họ, vì thiếu vắng cột trụ của gia đình có thể đi vào vòng sa đoạ. Đây có thể là viễn ảnh của xã hội trong một tương lai không xa nếu, TC "thực sự" khai thác hay "chiếm đóng" Cao nguyên Trung phần Việt Nam.

 

 

Thưa Quý vị,

 

Đứng về phượng diện địa lý, tỉnh Đắk Nông được bao bọc bởi tỉnh Dak Lắc về phía Bắc, Lâm Đồng về hướng Đông Nam, tỉnh Bình Phước và giáp với biên giới Cambodia về hướng Tây. Gia Nghĩa là trị trấn của Đăk Nông, cách Sài Gòn 245 Km, Phan Thiết 180 Km. Còn Lâm Đồng được bao bọc  bởi các tỉnh Đăk Lắc, Khánh Hòa, Bình Thuận, Ninh Thuận, Đồng Nai, và Sông Bé.

 

Tỉnh Đắk Nông chiếm diện tích 6.510 Km2, có độ cao trung bình từ 600 đến 700m, nhưng cũng có nhiều nơi chiếm cao độ trẹn 1.900m. Về dân số, có 417.00 người năm 2007 gồm đa số 80% người Kinh (Việt Nam) và 31 sắc tộc thiểu số trong đó người M'nong, Tay, Ede chiếm đa số. Mật độ trung bình là 64 người/km2 và có 15% dân sống trong các thành phố. Thu nhập đầu người cho năm 2006 là 7,7 triệu/năm (~US$450).

Đăk Nông được bao phủ  bởi rừng rậm chiếm 64%, trong đó gồm 87% là rừng thiên nhiên, 2% rừng trồng cây công nghiệp, và 11% đất hoang. 

Nói về ảnh hưởng của xã hội và xáo trộn văn hóa một khi CS Việt Nam cho TC khai thác bauxite vùng nầy, chúng ta, trước hết có thể nêu một thí dụ điển hình ở tỉnh Pleiku ành hưởng lên người dân Jarai chỉ sau một thời Việt Nam phát triển vùng nầy.

Tiến sĩ Matthieu Guérin, giáo sư Trưởng khoa Sử Hiện đại của Viện Đại Học Caen và chuyên viên nghiên cứu nền Văn hóa dân tộc Jarai tại Pleiku nhấn mạnh "Chỉ cần có 30 năm là đủ để hủy hoại toàn bộ «khu "Rừng Muôn Thánh"  (la forêt des mille génies ). « Cuộc tàn phá bắt đầu ngay vào những ngày đầu những ngày Thống Nhứt đất nước Việt Nam năm 1975»"  để gây sự chú ý của các thính giả trong buổi nói chuyện ở Đại học Sorbonne vào tháng 2/2009 về cuộc tàn phá Rừng già và cướp đất  ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam.

Hiện tượng một nền nông nghiệp lương thực (của người dân tộc Jarai ) được biến thành một nền nông nghiệp công nghệ và thương mãi dài hạn ngày nay đã lên đến một mức độ trầm trọng có nguy cơ đến tương lai của người Jarai. «Trước hoàn cảnh bị cướp đất có kế hoạch, người dân Jarai trước chỉ biết lùi sâu vào vùng rừng già. Nhưng ngày nay, gần như không còn rừng già nữa, và họ đang bị đưa vào bẩy sập. Không biết làm sao hơn, hoặc là chấp nhận số phận, bị đồng hóa vào dân tộc Kinh, hoặc là kêu gọi mở ra một cuộc đấu tranh đầy tuyệt vọng ».

Thật vậy, đây là một nền Văn hóa đang bị hủy hoại. Cách đây không bao lâu, người dân tộc Jarai di săn cọp trong những khu rừng già (của họ), câu cá trên những giòng nước chảy siết, hái hoa, hái trái, đốt rừng làm rẩy ... và dân tộc Jarai, những đứa con của rừng lớn lên, sanh hoạt trong  rừng, và sống với  rừng.  Và còn hơn thế nữa, dân tộc Jarai có một mối tương quan đặc biệt và mật thiết  với rừng, họ với rừng mà một, như những tài liệu nghiên cứu của nhà truyền giáo – nhân chủng học Jacques Dournes đã chứng minh. Nhưng ngày nay «Hãy tưởng tượng rằng trong vòng chỉ 30 năm ngắn ngủi, quý bạn đang nhìn thấy gia tài văn hóa của quý bạn đang bị tiêu hủy và trên đường sụp đổ» Tiến sĩ Matthieu Guérin nói tiếp. «Đó là những gì hiện đang xảy ra với dân tộc Jarai. Nếu họ không hòa đồng, nếu họ không chấp nhận lối sống của người Kinh, và nếu họ không chấp nhận lối sống định cư, họ sẽ không còn nơi cư ngụ. Và để kết luận chúng tôi gọi đây là một loại diệt nhân chủng (ethnocide)».

Ngày nay tại thành phố Pleiku thủ phủ Tỉnh Gia Rai, có 200 ngàn người Việt gốc Kinh và 40 ngàn người dân tộc Jarai. Để so sánh, trước Đệ nhị thế chiến, tỷ số dân Thượng ở Tây nguyên Trung Phần Việt nam là 93%.

Ngày nay nếu ta đến viếng Pleiku, từng một thời được nhắc đến như là một thành «phố núi cao" thơ mộng , của các " em Pleiku mà đỏ môi hồng», thì nay, không còn cảnh thiên nhiên nên thơ gần gũi để chỉ "đi năm phút đã về chốn cũ» nữa, mà sẽ chỉ thấy một thị xã tân thời, đầy những cao ốc, với những nạn kẹt xe, bụi bặm, ồn ào bởi những tiếng xe gắn máy, chúng ta chỉ tìm thấy bóng người Thượng, người dân tộc Jarai ở tụ tập (bị vất)  bên ven bờ thành phố,  trong những nhà tôn, vách ván trên nền đất nện tạo thành những khu nhà bình dân (ghetto) điêu tàn, dơ dáy. ...

Đừng nghĩ rằng tình trạng kinh tế của dân tộc Jarai khá hơn lúc trước vì nhờ nền kinh tế vùng Cao nguyên đã phát triển. Rất ít gia đình người dân tộc có điện vào nhà, và rất hiếm nhà người dân tộc có TV, ta có thể kết luận nhà người dân tộc Jarai sống cũng giống như giấc mơ của họ: tí ti, tạm sống qua ngày.

Giấc mơ thực sự của họ ư? Họ mong Nhà nước Việt Nam trả đất lại cho họ. Trả đất của tổ tiên họ cho họ. Và có thể cho phép họ được tự do thờ phượng, như Hiến Pháp nước "Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" đã quy định. Họ có xin quyền Tự chủ không? Thật sự mà nói cũng có vài người có nghĩ đến, nhưng đó là một chuyện khác Tuy không nói ra, nhưng trong thâm tâm họ, chắc chắn là họ xót xa vì mảnh đất quê hương họ bị dày xéo. Ước mơ giản dị nhất của người Jarai không gì khác hơn là được sống yên ổn làm ăn. Nhưng nào có đươc?

Trước những tình trạng đói khổ và những đòi hỏi nhân quyền nầy, rất dễ đưa đến những sự  xung đột; và quả thật điều này đã xảy ra: Cuộc cưỡng chiếm đất của Nhà nước để quy hoạch cho công nghệ, một chuyện ép giá của một chủ xí nghiệp tư để mua đất, ... và còn nhiều chuyện không được các cơ quan cầm quyền địa phương xử lý công bằng đã đem lại một cuộc nỗi dậy và cuộc đàn áp dữ dội đổ máu vào năm 2001.

Trở qua vấn đề khai thác quặng bauxite tại Cao nguyên Trung phần Việt Nam, hay đúng hơn tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đák Nông), người Thượng thực sự là từ chung để gọi toàn thể  các dân tộc  thiểu số vùng Tây Nguyên Trung phần Việt nam: Jarai, Bahnar, Rhadé, Sédang, Koho, Bru, Pacoh, Katu, Sré .Có tất cả là 31 dân tộc khác nhau gọi chung theo một từ chung (cấm ) là Degar, có nghĩa là «những người con của rừng núi».

Tưởng cũng nên nhắc lại rằng trước khi xảy ra "chiến dịch rêu rao" "khai thác quặng Bauxit" này của nhà nước CSVN, họ cũng đã từng bị chèn ép lấn đất, lấn rừng, cấm đạo rồi...Nhưng vì thấp cổ bé miệng họ đành nhẫn nhục chịu đựng, sau khi đã chống đối không xong. Cuối cùng, rất nhiều người đã phải bỏ rừng bỏ rẫy tìm đường ra đi. Ra đi trong uất ức và đau xót vì có lắm người đã phải để vợ, con ở lại. Hiện nay Canada là nơi đang đón nhận người tị nạn Jarai từ mấy năm nay.  Cho đến bây giờ thì tình trạng cuỡng bức đã trở nên toàn diện, lộ liễu và có kế hoạch.

Vậy thì xin hỏi: Đàng sau tất cả mọi sự cuỡng chiếm đất đai của đồng bào thiểu số, và vụ "khai thác quặng bauxit ở Cao nguyên Nam Trung phần là do thế  lực nào thúc đẩy, và với mục đích gì?

Bài học ở Pleiku kể trên, cho thấy sự việc lại tái diễn ở hai vùng đất nêu trên (Tân Rai và Nhân Cơ) nhưng dưới một hình thức khác. Nói theo kiểu quân sự  thì việc CSVN bề ngoài thì hô hào việc khai thác Bauxit (gọi là "DIỆN" ) mà kỳ thực bên trong là nhà nước CS Việt Nam đã giao khoán cho TC toàn quyền khai thác hai vùng nầy (tức là "ĐIỂM").  Do đó, nhiều vấn đề không thuận lợi cho người địa phương tức người Thượng có thể nảy sinh trước sự hiện diện của một dân tộc ngoại quốc chiếm đóng  và khai thác.

Người Thượng ở Viêt Nam có nhiều phong tục, tập quán, cung cách sống và sinh hoạt đặc biệt khác xa với người Kinh (người Việt Nam). Nhiều chương trình phát triển miền Cao nguyên dưới thời Việt Nam Cộng Hòa cũng không đem lại sự ổn định hay làm tăng mức sống của người Thượng cũng vì không nghiên cứu tường tận nhu cầu thực sự của họ.

Hai địa điểm hiện đang được khai thác là Nhân Cơ, nằm về phía Tây của thị xã Đà Lạt và cách trung tâm nầy khoảng 40 Km. Còn địa điểm Tân Rai ở xã Lộc Thắng nằm về phía Bắc của thị xã Bảo Lộc và cách 15 Km.

Ngày nay, CS Việt Nam lại áp dụng một chính sách áp đặt và cung cách cư xử với họ càng khắc nghiệt hơn hoàn toàn không ứng hợp với nguyện vọng của họ. Từ đó nảy sinh ra nhiều hệ lụy có thể gây ra sự đổ vỡ mối liên hệ Kinh-Thượng vốn đã không thể hiện một cách công bằng và bình đẳng.

Sau đây là những sự kiện và hệ lụy có thể xảy ra khi sự xâm nhập của TC vào công cuộc khai thác bauxite ở vùng cao nguyên.

·         Việc chiếm đất để làm công trường khai thác hay xây dựng cơ xưởng của TC và Việt Nam, cũng như việc áp đặt và chuyển dời người thiểu số là một vần đề hệ trọng chứ không đơn thuần là một bài toán cần phải giải quyết như tịch thu đất đai và đền bù cũng như di dời người thiểu số.

·         Việc chọn chỗ mới cho việc di dời theo quan điểm của người Kinh chỉ là một việc đơn giản, nghĩa là tìm cho họ một vùng đất nào đó để họ ở, sinh sống, và "tìm miếng ăn". Nhưng thực sự, người Thượng chú trọng nhiều đến phong tục, thổ nhưỡng, và nhứt là truyền thống sinh hoạt thôn xóm ngay cả việc đào giếng hay làm cổng vào làng cũng là một viêc hết sức tế nhị cần nghiên cứu. Nếu không, họ, sau khi bị tập trung lại, sẽ chỉ ở một thời gian ngắn rồi bỏ đi…

·         Đối với việc di dời, ai là người chịu trách nhiệm trực tiếp? Đất đã khoán cho TC, mà sao trách nhiệm di dời lại để cho nhà cầm quyền địa phương, một cơ quan không có phương tiện tái chánh để thực hiện việc di dời cũng như đền bù thiệt hại. Địa phương chỉ có khả năng cung cấp "đất hoang" mà thôi, hoàn toàn không đủ nghiên cứu để cứu xét tính cách khả thi của đất cho nông nghiệp hay không, một việc cốt lỏi của sự sinh tồn của người Thượng. Do đó, sự di dời đã xảy ra từ hơn 3 năm nay vẫn còn tồn đọng và hiện tại vẫn còn hơn 500 gia đình người Thượng vẫn chưa được sắp xếp và đang còn trong vòng tranh chấp.

·         So với phong tục đặc biệt của người Thượng, việc thay đổi nếp sống "văn minh" chưa hẳn làm cho họ có thêm nguồn phúc lợi và hạnh phúc; nhưng trái lại, có thể làm cho việc di dời trở nên phức tạp hơn. Kinh nghiệm của Việt Nam Cộng Hòa trong việc làm nhà mái tole, dẫn nước sinh hoạt vào nhà, làm nhà vệ sinh bên trong nhà hoàn toàn không ứng hợp với tập quán của họ. Việc rời bỏ các khu định cư để đi sâu vào rừng trướvc năm 1975 là một kinh nghiệm quý báu cho nhà cầm quyền hiện tại trong chính sách đối với người Thượng.

·         Thêm một hệ lụy có nhiều xác suất xảy ra là tiền đền bù. Theo như tin tức  Việt Nam thì số tiền đền bù không xứng đáng với tài sản, đất đai, nhà cửa và hoa màu của người Thượng bị di dời. Nhiều vụ kiện đang còn kéo dài ở Tân Rai vì đất mới được cung cấp và số tiền bồi thường không đủ để cất nhà giống như ngôi nhà cũ lấy chi để tạo dựng lại cuộc sống mới. Cũng như cần phải tính thêm những sự ăn chận, tham những, ép buộc của địa phương trong việc áp dụng chính sách di dời.

·         Từ yếu tố vừa kể trên chúng ta thấy không thể khoán cho địa phương mà cần phải có chính sách chung và thống nhứt từ trung ương cũng như việc thực hiện cần phải có sự giám sát chặt chẽ, nghiên cứu địa chất tường tận, và nhứt là cần nghiên cứu yếu tố tôn giáo…để từ đó giải thích rõ ràng cho người dân lý do vì  sao họ phải dời đi nơi khác. Làm được như thế thì sự dời đổi sẽ bớt đi nhiều khó khăn và cuộc sống người dân sẽ bớt phiền toái ngõ hầu có  thể sớm được ổn định trong cuộc sống mới.)

·         Sau cùng, đối với sự tín ngưỡng và phong tục của người Thượng, vai trò của ông "Già Làng" rất quan trọng, vì là một ngôi vị tối cao của một làng. Mọi người già trẻ lớn bé đều phải thực hiện, làm đúng những mệnh lệnh, khuyến cáo của "Già Làng", hoàn toàn không có một ngoại lệ nào. Do đó, nhà cầm quyền cần phải giải thích, thuyết phục chính sách di dân, đừng để Già Làng còn nhiều nghi ngờ ảnh hưởng không tốt đến việc di chuyển, dời đổi người dân. Điều quan trọng nhứt là đừng dối gạt niềm tin của người Thượng qua sự chơn chất của họ. Nếu sai phạm, mọi chính sách di dời sẽ bị đổ vỡ và họ sẽ rút vào rừng sâu…

Qua những yếu tố phân tích trên đây, chúng ta thấy quả thật người Thượng rất nhạy cảm trong cung cách đối xử của người Kinh. Ngày nay, với sự hiện diện của ngoại bang, người Hán, chắc chắn trong tương lai sự mâu thuẫn giữa hai sắc dân kể trên sẽ làm cho vùng cao nguyên Trung phần Việt Nam biến thái theo chiều hướng bất thuận lợi cho người Thượng.

Đặc biệt có hai điểm cần lưu ý về chính sách đối với người Thượng từ sau 1975 về phía Hoa Kỳ và cs Việt Nam.

Do chính sách muốn tạo ảnh hưởng , ngay từ sau khi Việt Nam hoàn toàn nằm trong tay CS, Hoa Kỳ bằng mọi phương tiện đã đẩy mạnh mức độ xâm nhập vào miền Cao nguyên Trung phần qua sự phát triển phong trào gia nhập vào đạo Tin lành của dân tộc thiểu số. Có thể nói, sau gần 35 năm, Hoa Kỳ đã đạt được thành quả là lực lượng tín đồ Thượng hiện nay là một lực lượng đáng kể ở vùng nầy nhất là ở những thị xã hoặc thành phố.

Trong lúc đó, CS Việt Nam cũng cố gắng ngay từ đầu đào tạo một tầng lớp cán bộ người Thượng đề làm nồng cốt cho công cuộc "quản lý" người thiểu số.

Cà hai chính sách nầy đã đào tạo một số nhân sự có trình độ, tuy ở hai chiều hướng và mục đích khác nhau, nhưng rốt ráo lại, tuyệt đại đa số người Thượng vẫn không gia nhập vào hai khuynh hướng nầy và tiếp tục theo sự hướng dẫn của Già Làng mà rút sâu vào nội địa.

Kết quả tiên liệu cho tương lai qua những hiện tượng đã xảy ra ngay từ sau khi chiếm toàn cõi Việt Nam, sĩ số người Thượng sống trong vùng nầy bị giảm đi hằn. Họ đã trốn chạy vào rừng sâu, qua Cambodia và Lào. Và cuối cùng, nhiều người đã phải xin tị nạn chính trị tại nước thứ ba, như đã nói trên.

Trong một tương lai không xa nữa, viễn ảnh không còn sự hiện diện của nhiều sắc dân thiểu số sống trên Cao nguyên Trung phần Việt Nam qua việc khai thác bauxite của TC không phải là điều không tưởng. Và nóc nhà của Việt Nam, thảm thực vật che chở cho sức sống của người Việt sẽ bị hủy diệt cả về hệ sinh thái lẫn tính đa dạng xã hội của vùng nầy..

Để kết luận, việc «giúp đở» người Thượng là giúp đở kinh tế, là giúp họ hiểu và khai triển khái niệm về sự tiến bộ của con người. Nhưng tuyệt đối, phải biết tôn trọng dị biệt văn hóa của người Thượng, không được áp đặt những gì đi ngược lại truyền thống của họ. Hơn nữa, nếu những người cầm quyền hiện tại, nếu còn một chút điểm lương tri để thấy rằng không nên đặt họ, những đồng bào thiểu số, những người con của đất trời thiên nhiên vào hoàn cảnh hay tâm trạng của những kẻ thiếu quê hương để phải "sống mãi trong tình thương nỗi nhớ". Nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn, với cái "cảnh sơn lâm bóng cả cây già", với "tiếng gió gào ngàn", với "giọng nguồn thét núi" như Hổ Nhớ Rừng của Thế Lữ. Tội nghiệp cho những đồng bào thiểu số bơ vơ nầy đã bị chèn ép, đàn áp đến "ba tầng áp bức" và đã bị dồn đến chân tường!

Và rốt ráo hơn nữa là đừng để Vùng Cao nguyên biến thành những khu «biệt lập người Da đỏ» (Indian reserve) kiểu Mỹ, chuyên biểu diễn Múa Vũ Văn Hóa cho các đoàn du khách đến thăm viếng.

Hiện nay, hình ảnh nầy có thể là hình ảnh của Người Thượng tương lai ở Việt Nam.

 

 

Mai Thanh Truyết

Westminster, 11/22/2009

 

 

Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn

Dân tộc Sinh Tồn Trong Chiều Hướng Toàn Cầu Hóa  

 

 

 

Tiến trình tòan cầu hóa hiện đang diễn ra trên thế giới với vận tốc ngày càng nhanh.

Từ hậu bán thế kỷ 20, khái niệm về toàn cầu hóa đã nảy sinh với tốc độ tăng dần. Qua đến đầu thập niên 90, từ ngữ globalization được phổ biến rộng rãi trên thế giới nhờ phương tiện thông tin trên mạng lưới trở thành phổ thông. Bắt đầu từ lãnh vực truyền tin, thông tin, khái niệm toàn cầu hóa dần dần xâm nhập vào các lãnh vực khác như kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ khiến cho các biên giới địa dư quốc gia cũng từ từ hòa nhập vào nhau để hướng về một thế giới có nhiều điểm tương đồng nhiều hơn.

 

Bài viết nầy nhằm đưa ra vài nhận định về việc ứng dụng lý thuyết dân tộc sinh tồn vào thời kỳ thế giới đang mở rộng và tiếp cận một cách nhanh chóng thông qua mạng lưới xa lộ thông tin.

 

Với tư cách một đảng viên Đại Việt Quốc Dân Đảng, chúng tôi rất tự hào đứng dưới danh nghĩa ĐVQDĐ, một đảng chính trị đã do một thiên tài của đất nước là cố Đảng trưởng Trương Tử Anh, mới vừa 25 tuổi đã có khả năng xây dựng nên một chủ thuyết mệnh danh là "Dân Tộc Sinh Tồn" (DTST) để làm khung, làm nền tảng lý luận điều hướng hoạt động đấu tranh vững mạnh hướng về mục tiêu chiến lược lâu dài, không chao đảo trước mọi tình huống, và đã tạo điều kiện cho ĐVQDĐ trường tồn cho đến ngày nay.

 

Trên trận tuyến đấu tranh chống CS VN hiện tại, ĐVQD Đ có thể giương cao ngọn cờ DTST đặt trên căn bản đầy tình tự dân tộc và nhân bản làm đối lực đương đầu với chủ nghĩa CS vô thần, mị dân với ảo tưởng dựng nên một nước VN xã hội chủ nghĩa mà ngay cả những người đề xướng ra cũng không xác định được xã hội chủ nghĩa cụ thể là gì.

 

Mỗi người trong chúng ta, dù có những suy nghĩ nào dị biệt đi nữa, cũng khó có thể phủ nhận được tính cách mạng đầy nhân bản của chủ thuyết DTST. Chính chủ thuyết nầy theo quan điểm của người viết, cho đến ngày hôm nay (2009) vẫn còn là một đối trọng vững chắc đối với ý thức hệ của chủ thuyết Cộng sản, để từ đó áp dụng vào thực tế và điều kiện Việt Nam hầu thúc đẩy nhanh hơn tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

 

Đó là một xác quyết. Chúng tôi muốn lập lại một lần nữa, trước tiến trình tòan cầu hóa hiện nay cùng với vai trò của từng quốc gia trên thế giới, dù muốn dù không, Việt Nam cần phải hôị nhập vào cộng đồng chung, trong đó chủ thuyết DTST có khả năng không phải để chuyển hóa mà là xóa tan chủ nghĩa CS hiện đang "bách chiến bách thắng" trên tòan cõi Việt Nam.

 

 

Chủ nghĩa DTST trong bối cảnh 1938

 

Trong tiến trình thành lập Đảng Đại Việt, Đảng trưởng Trương Tử Anh đã hoạch định ra chủ thuyết DTST với mục tiêu duy nhất là nhắm vào việc phục vụ con người tòan diện. Đây chính là cái khung cho việc tuyên bố thành lập đảng vào năm 1939.

 

Chúng ta hãy trở lại bối cảnh thời bấy giờ. Trong giai đọan nầy, trên thế giới, Hoa kỳ mới vừa phục hồi lại kinh tế sau cơn khủng hoảng thế giới vào những năm 30. Ở thời điểm trên, Âu châu vẫn là một trung tâm quyền lực về chính trị, quân sự, và kinh tế. Tại Đức, Đức quốc xả do Hitler cầm đầu, với chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang chuẩn bị và huy động tiềm năng quân sự của mình để bắt đầu một cuộc chiến xâm lược. Đó là chiến tranh thế giới lần thứ hai.

 

Ở Việt Nam, tuy vẫn còn là một quốc gia theo chế độ quân chủ, nhưng nhà vua chỉ ngồi làm vì và thực dân Pháp cố tình duy trì chế độ phong kiến để kềm hãm ý chí đấu tranh và ngăn chận bước tiến của dân tộc Việt.

 

Tuy nhiên, qua những phong trào của cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,…một số nho sĩ Việt Nam đã bắt đầu bước ra khỏi những tầng tháp ngà và manh nha một vài nhận định mới về xã hội qua những tiếp cận và trình bày của hai nhà cách mạng trên. Nước Việt Nam từ đó không còn là một ốc đão nhõ nữa. Từ đó, người thanh niên Trương Tử Anh đã khai sáng ra chủ thuyết DTST. Có thể nói đây là một bước ngoặc lớn cho Việt Nam. Vào một thời điểm xã hội Việt Nam đang còn khép kín trong suy nghĩ, đóng chặt cửa trước thế giới bên ngoài, chịu nô lệ trong sự kềm hãm phát triển trên mọi khía cạnh của con người, nhất là phát triển tư tưởng độc lập dân tộc Việt. Chủ thuyết DTST đã khai mở tất cả. Đảng trưởng Trương Tử Anh đã vừa mở cánh cửa dân chủ cho Việt Nam. Đó là những nguyên lý sinh tồn qua 4 bước về bản năng sinh tồn của từng cá nhân như: bản năng vị kỹ, bản năng tình dục, bản năng xã hội, và bản năng suy luận.

 

Từ 4 bản năng sinh tồn trên, con người, đặc biệt là con người Việt Nam có thể thẩm thấu và thăng hoa theo chiều hướng hướng thiện. Bản năng sinh tồn không còn thể hiện cho từng cá nhân mà là cho sự sống còn của tòan dân. Bản năng vị kỹ dù lấy cá nhân làm trung tâm để có một tinh thần độc lập và cũng từ đó khai triển ra thành một tinh thần độc lập quốc dân. Do đó tính vị kỹ không nằm trong nghĩa hẹp của ngôn từ mà được ứng dụng vào cộng đồng dân tộc và biến con người trở nên cao thượng hơn có tinh thần biết hy sinh vì đại nghĩa.

 

Trở lại tình hình đất nước thời bấy giờ, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nước Việt Nam được chia ra làm 3 kỳ có 3 quy chế hoàn toàn khác nhau: Nam kỳ là đất thuộc địa, Trung kỳ có vua là đất bảo hộ, còn Bắc kỳ có kinh lược sứ, nhưng trên thực tế bị đặt dưới quyền thống trị của Toàn quyền Pháp. Song song với sự phân chia hành chính kể trên, từ đất Bắc, ĐV QDĐ đã phân công một số đồng chí cốt cán xây dựng cơ sở đảng thành 3 Xứ bộ Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ hoạt động trong vòng bí mật để có thể tồn tại. Chính vì nhu cầu bí mật bắt buộc phải xây dựng cơ cấu điều hành đa dạng, đáp ứng với điều kiện đặc thù của từng địa phương, cộng thêm những khiếm khuyết về thông tin không được xuyên suốt; theo thời gian, vô hình chung đã tạo nên một nề nếp hoạt động biệt lập theo từng Xứ bộ, nhất là sau khi Đảng trưởng TTA mất tích không để lại dấu vết trong biến cố năm 1946 tại Hà Nội. Những đồng chí được bầu lên để      điều hành Đảng sau nầy, do hoàn cảnh khách quan và chủ quan không thề nào duy trì đầu mối thống nhất  lãnh đạo Đảng được.

 

Từ đó, hình thành mô hình "hệ phái" với những danh xưng như ĐV Duy Tân, ĐV Cách Mạng, Tân ĐV v.v... Và dư luận quần chúng bên ngoài cho rằng đó là hình thức phân hóa của Đảng căn cứ vào những dị đồng của một số thành phần lãnh đạo.

 

Tuy nhiên, nếu phân tích thực trạng kể trên dưới tinh thần khoa học và phát triển, hiện tượng phân hóa chỉ là về mặt hình thức, còn về thực chất thì dù dưới danh xưng nào đi nữa, một ĐV QDĐ vẫn ngạo nghễ tồn tại dưới ánh mặt trời vì các "hệ phái" vẫn không từ bỏ danh xưng Đại Việt và nhất là hệ phái nào cũng xác định Lãnh tụ TTA là vị sáng lập Đảng, và tất cả đều sinh hoạt đấu tranh gắn bó với nhau và cùng đặt trên cơ sở chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn.

 

Tiến trình phát triển của một đoàn thể chính trị, theo quy luật gồm hai mặt: một mặt chiều thuận tích cực hướng về xây dựng tốt lành, một mặt chiều nghịch tiêu cực kéo đoàn thể đi xuống. Hiện trạng nầy hầu như đều xảy ra trong bất cứ một đảng chính trị nào trên đất Việt. Do đó, trong điều kiện kể trên, điều mà dư luận bên ngoài gọi là "phân hóa", thực sự chỉ thể hiện một cơn bịnh trong việc quản trị và điều hàng Đảng. Cơn bịnh đó có thể được chữa lành một khi có điều kiện khách quan và chủ quan đồng hổ trợ cho nhau ngõ hầu tạo cơ hội trao đổi và dung hòa quan điểm trên căn bản bất di bất dịch của chủ thuyết DTST.

 

Luật Dân Tộc Sinh Tồn biến cải

 

Sau khi hiệp định Geneve chia đôi lãnh thổ, VNCH được thành lập, hình thành một thể chế chính trị của một quốc gia toàn vẹn chủ quyền và độc lập. Từ đó, các đoàn thể chính trị ở miền Nam có điều kiện tham gia việc nước và một bối cảnh chính trị mới xuất hiện. Và cũng từ đó một số đoàn thể chính trị mới thực sự công khai hoạt động. Đối với ĐV, mô hình thể chế chính trị Đức, Nhật là mô hình lý tưởng của con đường đấu tranh khép kín cố hữu của ĐVQDĐ cho thấy không còn thích hợp nữa trong tình hình chính trị quốc tế mới, vốn chủ trương dân chủ và "mở" để cùng nhau phát triển trước tiến trình toàn cầu hóa. Cố GS Nguyễn Ngọc Huy, một trong những sáng lập viên Tân ĐV từ căn bản Xứù bộ Nam kỳ đã góp công khai triển luận thuyết chủ nghĩa DTST dưới sự soi sáng của thuyết tiến hóa Darwin, đưa lên lý luận xu hướng biến cải vào năm 1964. Từ đó, thuyết dân tộc sinh tồn biến cải ra đời.

 

Điều nầy không có nghĩa là ĐV đã tách rời, mà đây chỉ là một giai đọan mở theo tầm nhìn mới, thích hợp với một số đảng viên, cũng như chưa đạt được tính thuyết phục đối với nhiều đảng viên khác. Tuy trong nội tình có khác biệt về tư tưởng và hành động cũng như qua cung cách ứng xử đối với bên ngoài, người đảng viên ĐV trong gia đình ĐV cùng kết hợp hành động khi có biến cố xảy ra cho miền Nam. Đây là một điểm son của những hệ phái ĐV, thoát thai từ một gia đình chung, gia đình ĐVQDĐ.

 

Trở lại chủ thuyết DTST biến cải, GS Huy đã nhận định qua luật tiến hóa của Darwin để thấy rằng sức mạnh của con người chưa phải là một yếu tố then chốt để đưa đến thắng lợi sau cùng. Cũng cần phải có nhiều yếu tố của môi trường chung quanh mới quyết định sự thắng lợi tòan vẹn. Do đó GS Huy đưa ra xu hướng biến cải tức khả năng thích nghi tùy theo hoàn cảnh, lúc tiến, lúc lùi để ứng phó với những thuận lợi cùng bất lợi. Để rồi, sau cùng, tranh thủ phần thắng lợi trước mọi tình huống dù là bất lợi cho đòan thể của mình. Khái niệm sinh tồn trong giai đoạn nầy được hiển theo nghĩa của sự tiến hóa va øtiến bộ của loài người.

 

Trên đây là một chuyển hướng lớn về luận thuyết của ĐV. Tên tuổi của GS Huy sẽ nằm trong danh sách những người khai sáng và tiếp nối truyền thống ĐV. GS Huy còn đưa ra một số điều kiện cho sự sinh tồn trong luận thuyết biến cải cùng 2 hình thức tranh đấu dựa theo hai nguyên tắc đối nội và đối ngoại. Đó là hai hình thức tranh đấu bên ngoài và tranh đấu với chính nôị tâm của mình. Từ suy nghĩ trên, công cuộc tranh đấu của GS Huy thể hiện hình thức tranh đấu dưới dạng ôn hòa hay bạo động tuỳ theo trường hợp và diễn biến của hòan cảnh chính trị của quốc gia trong thời điểm trên.

 

Từ việc soi sáng những khả năng tranh đấu GS Huy đã khai triển thêm thành ba bước khác nhau hay 3 luật để rồi căn cứ theo đó mà hành xử tuỳ theo tình huống đang xảy ra. Đó là luật sức mạnh, luật biến cải và luật hợp quần và giáo dục.

 

Về luật sức mạnh, đứng trước thế phân cực mới trên thế giới, quả thật sức mạnh ngày hôm nay không còn căn cứ theo khả năng quân sự nữa, mà khả năng kinh tế mới là thước đo quyền lực tòan cầu. Luật biến cải cũng được GS giải thích là khả năng thích nghi theo hòan cảnh và điều kiện trong tình tarng xã hội lúc bấy giờ. Trước tình thế mới ngày hôm nay, cần phải vận dụng trí óc để thẩm định tình hình ngõ hầu biến cải mọi hợp tác quốc gia phải dựa theo quan điểm đồng thuận, và thế đôi bên cùng có lợi (win-win situation) khỏi bị lệ thuộc vào bất cứ quốc gia nào mà vẫn giữ được tính chất độc lập dân tộc.

 

Luật thứ ba về hợp quần và giáo dục. Đây là một yếu tố nhập môn rất sơ đẳng đã được giảng dạy từ những ngày đầu tiên của trẻ con miền Nam trong chương trình giáo dục tiểu học qua những câu chuyện ngụ ngôn trong sách quốc văn giáo khoa thư. Nhưng để thực hiện và áp dụng luật trên không phải dễ. Nhìn lại chính chúng ta, hiện tại bao nhiêu hệ phái của ĐV thực sự đã làm suy yếu tiềm lực lớn lao của một Đảng có quá trình tranh đấu lâu dài và một thời đã được sự ngưỡng mộ và ủng hộ của đại khối dân tộc Việt Nam.

Tiến trình tòan cầu hóa và hội nhập

 

Kể từ ngày thành lập đảng ĐV cho đến ngày nay, thế giới đã hoàn toàn biến đổi, đi từ một thế giới với những quốc gia khép kín đến hình thái một thế giới mở như ngày hôm nay. tiến trình toàn cầu hóa hẳn nhiên là một tiến trình phải hướng tới vì sự phát triển chung của toàn cầu. Đây là một tiến trình tự nhiên trong phát triển để cùng đưa các quốc gia đến gần hơn và bổ túc cho nhau hơn trên tư thế đôi bên cùng lưỡng lợi. Từ đây, chúng ta cùng lượt duyệt qua hai quốc gia điển hình ở châu Á là Trung Quốc và Nhật Bản để từ đó chiêm nghiệm ra con đường VN có thể đi trong những ngày sắp đến. Cũng từ đó, chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm đem áp dụng vào điều kiện VN và việc ứng dụng chủ thuyết DTST trong hoàn cảnh hiện tại.

 

Từ nhiều ngàn năm trước, khi nhân loại đang còn triền miên trong giấc ngủ của thời kỳ bán khai, Trung quốc đã có một nền văn minh cực thịnh, phát minh ra nhiều kỹ thuật căn bản tuyệt vời cho phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ nhân sinh. Đó là thuốc súng, giấy, và địa bàn. Nhưng thay vì dùng thuốc súng cho những nghiên cứu ứng dụng vào lợi ích cho đời sống, người Trung Quốc đã làm ra pháo nổ, pháo thăng thiên để mua vui trong các cuộc hội hè đình đám. Đá nam châm, địa bàn... không được ứng dụng cho khoa học mà tập trung vào việc phát triển địa lý phong thủy để nhàn hạ trong thú ngao du sơn thủy. Giấy được dùng trong việc chế tạo tiền vàng bạc phục vụ cho việc tang chế, cúng tế thay vì sử dụng cho nhu cầu giáo dục. Giấc ngủ dài trên cùng với giấc mơ thiên tử đã làm cho Trung quốc thành một quốc gia đông dân nhất thế giới (1,38 tỷ năm 2008) và có lợi tức đầu người khoảng $ 1.500 năm  2008.

 

Bước vào thiên niên kỷ mới, người Trung Quốc dường như vẫn chưa hình dung và đánh giá đúng đắn nhu cầu dân chủ-toàn cầu hóa trong mọi lãnh vực là một tất yếu không thể cưỡng lại được. Họ vẫn dùng sức mạnh dựa trên dân số mà làm áp lực khắp nơi, phát triển kinh tế-khoa học kỹ thuật bừa bãi bất kể đến an sinh của chính người dân trong nước và các khuyến cáo của thế giới như việc xây dựng đập nước thiếu điều nghiên đúng đắn, phế thải kỹ nghệ độc hại được đưa thẳng vào thượng nguồn của các sông, ngay cả sông Mekong làm di hại đến hạ lưu trong đó có Việt Nam. Và việc làm sai trái đó vẫn còn đang tiếp diễn. Trong tiến trình bước vào thiên niên kỷ mới, Trung Quốc chỉ còn có một sức mạnh duy nhất, không thay đổi từ ngàn năm là tánh duy ngã độc tôn và niềm tự hào đông dân nhất thế giới!

 

Ngược lại, Nhật bản vẫn tồn tại và tiếp tục tăng trưởng nguồn phúc lợi cho người dân. Sức mạnh kinh tế của Nhật chỉ đứng sau Hoa kỳ, vượt xa các nước Tây phương. Và người Nhật cũng đã từng tự nhận là con của Thiên Hoàng- một chủng loại siêu nhân trên thế giới. Nhưng khi đứng trước nhu cầu toàn cầu hóa trong việc bảo vệ môi trường và phát triển, người Nhật hay ít ra lãnh đạo Nhật đã quên đi tinh thần yêu nước cực đoan và lần lần hội nhập vào cộng đồng thế giới để cùng giải quyết các vấn nạn chung cho toàn cầu. Lãnh đạo Nhật đã can đảm chính thức quyết định tiếng Anh phải là thứ tiếng giao dịch cho toàn thể dân chúng sau tiếng Nhật. Bộ Giáo dục Nhật vừa mới đây đã xác nhận dùng tiếng Anh nhằm chuyển biến đất nước mang tính "quy chuẩn văn hóa toàn cầu" cho thế kỷ thứ 21. Yêu cầu dùng tiếng Anh như là tiếng nói chính thức trong mọi giao dịch ở các công sở và nơi công cộng. Làm như thế, lãnh đạo Nhật đã chứng minh tầm nhìn xa và đặt quyền lợi tối thượng của quốc gia dân tộc hơn là tự ru ngũ trong niềm tự hào dân tộc cực đoan. Cũng cần nến biết, vào thời điểm 1970, lợi tức đầu người của miền Nam VN là $150/năm, trong lúc đó Nhật Bản có lợi tức $180/năm. Ngày nay, VN đạt được khoảng $ 800/năm, và Nhật Bản bỏ xa với trên $32.000/năm. Với mức phát triển sai biệt trên cho thấy rõ ràng rằng trong khoãng thời gian gần 40 năm, mức phát triển để sinh tồn của dân tộc Việt đã không đi đúng hướng. Do đó hiện tượng chậm tiến vẫn còn triền miên dự phần thường trực vào tâm khảm của mỗi người Việt chúng ta.

 

Trở về đất nước thân yêu của tất cả chúng ta, Việt Nam hiện tại là một dân tộc non trẻ, thông minh, chăm chỉ, hiếu học, cần cù , và có tinh thần cầu tiến. Trên 90% dân số đều biết đọc biết viết. Con số nầy quá cao so với các nước đang phát triển và có điều kiện xã hội tương tự như của chúng ta. Tuy nhiên theo phúc trình của Bộ ngoại giao Hoa kỳ tháng 2008, tổng sản lượng trung bình tính theo đầu người của VN là $800/năm, vẫn còn quá thấp ngay cả so sánh với một số quốc gia Phi châu, và Campuchia! Trên 60 triệu dân (70% dân số) sống trong vùng nông nghiệp và chỉ đạt được 22% tổng sản lượng toàn quốc. Cũng theo phúc trình trên, có 30% dân số sống dưới mức bần cùng. Nếu tính theo định nghĩa của Liên hiệp quốc về mức nghèo tuyệt đối (absolute poverty) tính theo đầu người là US$1/ngày, tỷ lệ trên sẽ còn cao hơn nhiều. (Hoa kỳ chỉ có 1,5 triệu nông dân để cung ứng nhu cầu lương thực cho 300 triệu người Mỹ và viện trợ lương thực đi khắp thế giới.)

 

Tai sao có sự nghịch lý kể trên? Dĩ nhiên là phải có cái gì bất ổn cho đất nước. Thiết nghĩ, sự bất ổn cho đất nước cần phải được soi rọi kỹ lưỡng. Bất ổn đến từ đâu? Tại sao dân tộc Việt, với niềm tự hào về tiền nhân, hãnh diện vì có một nền văn hóa riêng rẽ và độc đáo... lại phải đi bước thụt lùi so với các quốc gia trên thế giới. Thậm chí đến những quốc gia trong vùng Đông Nam Á, VN đã từng đứng hàng đầu, giờ đây, với chỉ dấu chính để so sánh mức phát triển qua lợi tức đầu người, VN hãy còn hàng vài chục năm nữa mới có thể hy vọng đứng ngang hàng với Thái Lan hiện tại. Phải chăng dân tộc chúng ta không có sức sinh tồn mạnh đủ để đưa đất nước đi lên.

 

Hiện tại, trong nhiều lãnh vực kinh tế-kỹ thuật-khoa học-môi sinh, thế giới đang biến thành một quốc gia lớn, một trật tự mới đang hình thành. Trong bối cảnh đó, càng ngày càng thấy rõ ràng mọi người đều có trách nhiệm. Những gì xảy ra tại Tây Tạng, Vân Nam đều trực tiếp ảnh hưởng đến đồng bằng sông Cửu Long. Rốt ráo hơn nữa, mọi người Việt đều có trách nhiệm về tình trạng tụt hậu của Việt Nam. Và dĩ nhiên ĐV QDĐ cũng phải có trách nhiệm trước dân tộc. Trách nhiệm đó sẽ được thể hiện như thế nào? Đó là câu hỏi của tất cả đảng viên  ĐV cùng động não để có câu trả lời. Việc ứng dụng chủ thuyết DTST ngay từ bây giờ sẽ là một đề tài để mỗi đảng viên cùng suy nghĩ. Và người viết với tư cách một đảng viên trình bày một số suy nghĩ để chia xẻ cùng toàn thể gia đình Đại Việt.

 

Chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn trước tiến trình tòan cầu hóa

 

Qua nhận định sơ lược về lịch sử của ba quốc gia Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, qua phân tích căn bản về thuyết DTST và DTST biến cải, và nhất là qua quá khứ gần đây và những kinh nghiệm "đầy dấu ấn" không đẹp của tòan thể ĐV, đứng trước tình thế mới ở Việt Nam, và những thay đổi liên tục trên thế giới về sự phân cực quyền lực, chúng ta, những đảng viên ĐV cần phải làm gi? Hành động trong hiện tại và tương lai của những hệ phái ĐV sẽ được dân tộc đánh giá trong những ngày sắp tới ra sao? Câu trả lời sẽ là kết quả của những việc làm của mỗi thành viên trong Đảng.

 

Nên nhớ, tinh thần của đảng cách mạng ngày hôm nay không còn là một tinh thần "kín" nữa, mà phải là một đảng "mở". Sự gìn giữ bí mật trong nội bộ, chỉ còn là những kế hoạch hành động trước khi thi hành để cho đối phương không phòng ngừa trước mà thôi. Đảng phải mở, để cho người dân thấy hướng đi tích cực và rõ ràng của đảng để có thể tạo ra được sự đồng thuận nhiều hơn.

 

Người Đảng viên ngày nay đứng trước tiến trình tòan cầu hóa phải là một nhân sự đầy năng động, có khả năng phục vụ quần chúng trong một xã hội mở, chứ không còn là một đảng viên bí mật, sống trong bóng tối và chỉ lộ diện ra ngoài xã hội trong những trường hợp bất khả kháng mà thôi.

 

Người Đảng viên ngày nay cần phải chuyển hóa bản năng vị kỹ thành ra một tinh thần hòa đồng cho cái chung của dân tộc, không còn tính vị kỹ trong ý nghĩa thấp nhất là phục vụ cho chính "cái ta" của mình.

 

Người Đảng viên trong suy nghĩ mới ngày nay cần phải chối bỏ mọi rào cản ngăn cách đảng viên/đảng viên và đảng viên/quần chúng để có được một sự hổ tương sinh tồn, tạo ra thế đứng vững mạnh để làm đối trọng trong mọi giao tiếp với các quốc gia khác. Từ đó sẽ tiến tới tiến trình liên đới về cung và cầu ngõ hầu đạt được sự đồng thuận chung. Đó là thế đôi bên cùng lưỡng lợi.

 

Người Đảng viên ĐV ngày hôm nay, ngoài tinh thần đòan kết, củng cố xây dựng đảng, phát triển sự đồng thuận nôị bộ để lấy lạị uy tín đối với quốc nội và hải ngoại đã bĩ sứt mẻ trong hiện tại vì hiện tượng phân hóa.

 

Làm được những điều trên đây, Đại Việt Dân Tộc Sinh Tồn mới hy vọng đẩy mạnh được tinh thần đấu tranh dành lại độc lập dân tộc cũng như thuyết phục được sự hậu thuẫn của quốc tế trong công cuộc đấu tranh chung naày.

 

 

Thay lời kết

 

Thế giới ngày nay là một thế giới hòan tòan mở, mở để đối thoại, mở để đi đến sự đồng thuận trong thế tương quan bổ túc hổ tương lẫn nhau. Đảng ĐV trước sau thiết nghĩ cũng phải đi theo tiến trình nầy. Đảng phải công khai lộ diện trước quần chúng. Thời đại của một đảng cách mạng kín, sống và làm việc trong bóng tối, đảng viên phải ẩn danh hay chỉ dùng bí danh để giữ bí mật về đảng tịch… đã qua rồi. Đảng Đại Việt sẽ không còn là một đảng cán bộ mà phải là một đảng cán bộ và quần chúng, công khai tranh đấu trên chính trường, nghị trường. Như vậy mới mong được toàn dân tin tưởng và hỗ trợ.  Đảng sẽ không còn giữ hình thức lãnh tụ trong mô hình hình tháp trong đó chủ tịch đảng có tòan quyền hành động và nắm quyền lực tuyệt đối.

 

Mà, quan niệm của Đảng ngày hôm nay phải là một tập thể lãnh đạo trong đó ban lãnh đạo cùng nhau trao đổi trong tinh thần đồng chí và tương kính để "quản lý" và "điều hành" đảng một khi đã có sự đồng thuận chung.

 

Thực hiện được những điều trên, chúng ta, người Đảng viên Đại Việt ngày hôm nay mới có khả năng phục hoạt lại thế mạnh của Đảng trong thời kỳ chống Pháp giành lại độc lập, rà soát lại những khuyết điểm trong thời gian nắm giữ quyền lực thời Đệ Nhị Cộng hòa, và trong tương lai, đẩy mạnh công cuộc tháo gỡ những bế tắc của dân tộc do sự cai trị sai lầm của những người cộng sản chuyên chính Việt Nam.

 

Về mặt hải ngoại, kể từ ngày hôm nay, đã chấm dứt thời điểm ra tuyên cáo, tuyên ngôn, nhận định tình hình v.v. ..rồi chờ đợi. Làm như thế chỉ đánh mất thêm thời gian và chúng ta đã làm như thế trên 30 năm nay rồi. Làm như thế chúng ta đã gián tiếp làm thui chột niềm tin của cộng đồng dân tộc ở hải ngoại cũng như ở trong nước.

 

Ngày hôm nay, người Đảng viên ĐV phải có đủ đỡm lược để phát huy tiếng nói của ĐV DTST. Phát huy không phải là nói suông là phải biết nói, biết viết. Nói lên, viết lên chính nghĩa của chúng ta. Nói và viết lên những sai trái của chế độ và việc làm hiện tại trong công cuộc quản lý đất nước Việt Nam, để tạo điều kiện cho công đồng dân tộc hiểu rõ hơn bộ mặt thật của chế độ. Thêm nữa, trong giai đọan nầy, người Đảng viên ĐV DTST phải biết hy sinh, hy sinh cho đại cuộc bằng việc đóng góp vật lực, tài lực, và đóng góp chính bản thân cho nhu cầu dành lại dân chủ, tự do cho người dân Việt Nam.

 

Để kết luận, Đảng viên ĐV trân trọng bốn ngàn năm văn hiến của tiền nhân, ngày hôm nay không vì niềm tự hào đó mà dừng chân lại để chiêm ngưởng quá khứ, một thời vàng son cũng như  tự "an ủi" với quá trình hoạt động trong thời gian đã qua. Đảng viên ĐV DTST của Việt Nam phải lên đường, bắt đầu ngay từ bây giờ, cùng nhau điều chỉnh hướng đi để có thể ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hóa trên thế giới hầu tạo được một chất keo kết dính để hình thành một hình thức think tank hầu hy vọng rút ngắn tiến trình mang lại dân chủ, tự do cho Việt Nam

 

Có như thế, hy vọng cơ hội phát triển quốc gia, và triển vọng tương lai cùng đời sống kinh tế và tâm linh của người dân Việt mới có thể được nâng cao lên.

 

Tiếng còi xuất quân đã điểm. Mời tất cả thành viên thuộc mọi hệ phái trong gia đình Đại Việt cùng nhau đoàn kết lại và tiến bước.

 

Trân trọng và mong lắm thay,

 

Mai Thanh Truyết

Hiệu đính 11/2009

Năng Lượng Nguyên Tử ở Việt Nam

 Năng Lượng Nguyên tử
 

Quan niệm đúng đắn về phát triển bền vững cũng như nhu cầu năng lượng cần thiết cho phát triển là hai vấn đề cấp thiết mà nhân loại cần lưu phải tâm trong những năm sắp đến. Tiến trình toàn cầu hóa trong phát triển chung khiến cho hầu hết lãnh đạo các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những quốâc gia hậu kỹ nghệ cần phải ngồi lại để tìmra những biện pháp chung để giải quyết vấn đề cốt lỏi của con người. Đó là năng lượng cần thiết để phát triển.

 

Trước những vấn nạn môi trường và hệ sinh thái bị hủy diệt, nhu cầu điện năng đến từ than  đá hay thủy điện dần dần bị thay thế bằng những nguyên liệu "sạch" cho năng lượng. Năng lượng từ dầu hỏa có nguy cơ bị cạn kiệt trong những thập niên sắp đến. Về năng lượng gió cũng như năng lượng mặt trời...chỉ là những bước đầu, chưa đạt quy mô lớn và giá thành tương đối còn cao.

 

Chỉ còn lại năng lượng hạch nhân hiện đang được các quốc gia ráo riết tập trung nghiên cứu để tiến đến một công nghệ năng lượng sạch, an toàn, giá thành rẽ, và mang lại nhiều ứng dụng khác hơn là việc tạo ra điện năng phù hợp với tinh thần phát triển bền vững do LHQ đề ra.

 

Bài viết có mục đích trình bày một số thông tin căn bản về sự lịch sử và sự hình thành một lò phản ưng hạch nhân, cùng những viễn kiến tiến tới một công nghệ sạch cùng một số an toàn lao động trong vận hành.

 

 

Sự phân bổ các lò năng lượng hạch nhân

 

Hiện tại (2004), trên thế giới hiện có 441 lò phản ứng hạch nhân đang hoạt động rãi rác ở 31 quốc gia, sản xuất ra 363 triệu Kilowatt (KW) điện năng. Trung bình một lò phản ứng có khả năng sản xuất từ 800 trăm ngàn đến một triệu KW. Hiện tại, có 30 lò đang được xây cất ở 24 quốc gia, và thế giới cũng đang có dự kiến xây dựng thêm 104 lò phản ứng nữa trong vòng 10 năm tới.

 

Các quốc gia Á Châu như Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Đại Hàn là những quốc gia đang đặt trọng tâm vào việc xây dựng lò phản ứng cho nhu cầu năng lượng cần cho phát triển. Trong tượng lai, năng lượng hạch tâm không chỉ được được xử dụng để sản xuất ra điện năng mà còn được ứng dụng như một dạng năng lượng để sản xuất ra khí Hydrogen (H2), hoặc dùng để khử muối trong nước biển cho nhu cầu nước sinh hoạt ở những vùng không đủ nước. Có thể nói H2 là hoá chất căn bản để thực hiện hầu hết các quy trình sản xuất hóa chất trong kỹ nghệ, đây là một nguyên liệu có thể thay thế các sản phẩm hóa chất khác từ dầu hỏa.

 

Tại Hoa kỳ, hiện có 103 lò phản ứng đang hoạt động, sản xuất ra 97 triệu KW, chiếm khoảng 20% nhu cầu điện năng toàn quốc. Chi phí xây dựng cho 1 KW giờ điện của loại năng lượng nậy là 1,68 cents, chỉ đứng sau giá điện năng do thủy điện cung cấp mà thôi. Tại California, chúng ta phải trả trung bình khoảng 7 cents cho 1 KW giờ. Thời gian hoạt động của một lò phản ứng năng lượng hạch nhân là khoảng 40 năm.

 

Đối với các quốc gia Tây Âu, tỷ lệ xử dụng điện từ lò hạch nhân trung bình khoảng 35%> Pháp đã xử dụng 78% cho nhu cầu điện toàn quốc; Bỉ, 55%.

 

 

Lịch sử hình thành lò phản ứng hạch nhân

 

Một trong những nhu cầu cần thiết để phát triển quốc gia là năng lượng. Và năng lượng đến từ các lò phản ứng hạch nhân được các khoa học gia chú ý đến từ những năm đầu thập niên 50. Từ đó lò phản ứng thuộc thế hệ I (generation I) ra đời. Các lò nầy hiện tại vẫn còn được xử dụng. Tuy nhiên các lò thuộc thế hệ nầy đang đi dần đến sự đào thải vì thời gian vận hành sắp chấm dứt (tuổi thọ của một lò phản ứng vào khoảng 50 năm). Thế hệ thứ II ra đời vào đầu thập niên 70. Thế hệ thứ III, vào thập niên 90. Và sau cùng thế hệ thứ IV đang được chuẩn bị với rất nhiều hy vọng trở thànhmột công nghệ toàn hảo vì sẽ làm giảm thiểu tối đa hiệu ứng nhà kính qua việc phóng thích thán khí đối với các lò phản ứng thuộc các thế hệ trước đó, thực hiện được an toàn lao động trong vận hành, và nhất là các lò trên sẽ là "lò phản ứng tự giải quyết" trong trường hợp có tai nạn xảy ra, nghĩa là không cần thiết đến sự hiện diện của con người trong trường hợp nầy.

 

1  Lò phản ứng thế hệ I - Lò phản ứng có tên Magnox là một lò phản ứng đầu tiên được sản xuất và tung ra thị trường vào những năm đầy thập niên 50 do 3 nhà vật lý học người Anh sáng chế có tên: TS Ion, TS Khalit, và TS Magwood. Lò Magnox xử dụng nguyên liẹâu Uranium trong thiên nhiên trong đó chỉ có 0,7% chất đồng vị (isotope) U-235 và 99,2% U-238. Nguyên tắc vận hành có thể được tóm tắt như sau: Các ống kim loại Uranium nầy được bao bọc bằng một lớp hợp kim gồm nhôm (Al) và Magnesium (Mg). Một lớp than graphite đặt nằm giữa ống Uranium và hợp kim trên có mục đích làm chậm bớt vận tốc phóng thích của trung hòa khí (neutron) do sự tách rời (fission) U-235. Từ đó các trung hòa khí trên sẽ va chạm mạnh với hạch nhân của U-235 (nuclei)...để các phản ứng dây chuyền liên tục xảy ra làm tăng thêm sự va chạm... Đây là một phản ứng phát nhiệt rất lớn và thán khí (CO2) được dùng để chuyển tải nhiệt năng nầy đến một máy turbine hơi nước để từ đó biến cải thành điện năng.

 

Việc điều hòa vận tốc phản ứng dây chuyền hoặc chận đứng phản ứng là một công đoạn quan trọng bậc nhất của một lò phản ứng. Trong công đoạn nầy lò Magnox xử dụng một loại thép làm từ hóa chất boron (B), loại thép nầy có tính chất hấp thụ các trung hòa tử, do đó có thể điều khiển phản ứng theo ý muốn. Có tất cả 26 lò Magnox đã hoạt động ở Anh Quốc, hiện tại chỉ còn 8 lò còn đang họat động và sẽ bị đào thải vào năm 2010.

 

2   Lò phản ứng thế hệ II: Các lò nầy đã ra đời vào thập niên 70 và 80, hiện chiếm đa số các lò đang họat động trên thế giới. Từ lúc ban đầu, 60% của loại lò nầy  áp dụng nguyên lý lò nước dưới áp suất (pressurized water reactor-PWR), trong đó nước dưới áp suất cao được xử dụng vừa làm dung dịch làm nguội, vừa làm dung dịch điều hòa phản ứng. Nguyên liệu xử dụng cho lò thuộc thế hệ II nầy thay vì dùng Uranium thiên nhiên, hợp chất Uranium dioxide được thay thế và hợp kim nầy được bọc trong các ống cấu tạo bằng kim loại Zirconium. Do đó Uranium-235 sẽ được tinh luyện từ 0,7% đến 3,0 - 3,5%. Nhưng các loại lò nầy lần lần được thay thế bằng cách áp dụng nguyên lý của lò hơi nước dưới áp suất (boiling water reactor-BWR). Một khác biệt căn bản là nước được đun sôi rồi mới chuyển qua hệ thống làm tăng áp suất. Làm như thế, phương pháp nầy rút ngắn tiến trình tạo nhiệt của hơi nước trong khi chuyển số nhiệt lượng qua các turbine để biến thành điện năng.

 

3 Lò phản ứng thế hệ III: Kể từ cuối thập niên 80, thế hệ III bắt đầu được nghiên cứu với nhiều cải tiến từ các lò phản ứng loại BWR của thế hệ II. Và lò nầy được đi vào hoạt động đầu tiên vào năm 1996 tại Nhật Bản. Bằng sáng chế đã được US Nuclear Regulatory Commission (NRC) xác nhận. Hiện tại các lò nầy đang được thiết lập ở nhiều quốc gia trên thế giới vì đáp ứng được nhu cầu xây cất tương đối ngắn, 3 năm, và chi phí cũng giảm so với các lò thuộc thế hệ trước cùng phương cách vận hành cũng như bảo trì tương đối giản dị và an toàn hơn.

 

 4  Lò phản ứng thế hệ IV: Tuy nhiên trước yêu cầu ngày càng cấp thiết hơn về an toàn lao động và bảo vệ ô nhiễm môi trường nhất là hiệu ứng nhà kính, các khoa học gia đang tiến dần đến việc xây dựng các lò hạch nhân thế hệ IV, trong đó hệ thống an toàn không còn dùng đến con người nữa mà hoàn toàn tự động. Thêm nữa sẽ không còn có việc thải hồi khí CO2 vào không khí. Một đặc điểm mới của lò hạch nhân thế hệ IV nầy là có thể sản xuất ngoài điện năng, còn cho ra Hydrogen, một nhân tố căn bản cho hầu hết các phương pháp tổng hợp hóa chất cần thiết cho công kỹ nghệ. Thế hệ IV còn được gọi là "lò phản ứng cách mạng ( revolutionary reactor). Thế hệ nầy đang được 9 quốc gia phối hợp thử nghiệm từ năm 2000. Các quốc gia nầy gồm: Á Căn Đình, Ba Tây, Canada, Pháp, Nhật Ban, Nam Phi, Đại Hàn, Anh Quốc, và Thụy Sĩ. Cộng đồng nguyên tử năng Âu Châu (European Atomic Energy Community) cũng đã xin gia nhập nghiên cứu chung vào năm 2003.

 

Thế hệ nầy sẽ đi vào ứng dụng vào năm 2030 và có thể thỏa mãn những điều kiện sau ngoài các lợi thế kể trên:

<Giá thành cho điện năng sẽ rẻ hơn hiện tại;

<Hoàn toàn an toàn 100%;

<Phế thải được giảm thiểu tối đa.

 

 

Vấn đề an toàn vận hành của một lò hạch nhân

 

Để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trong tương lai, việc làm khẩn thiết và cấp bách của các khoa học gia là làm thế nào để bảo đãm an toàn lao động trong vận hành và an toàn cho dân chúng sống chung quanh lò hạch nhân trong tường hợp có tai nạn hay khủng bố. Đây là mục tiêu mà mọi quốc gia đang nhắm đến.

Tuy nhiên vấn đề an toàn lao động trong việc xử dụng năng lượng hạch nhân đã làm tăng thêm nhiều dị biệt trong quan niệm về lãnh vực nầy của các nhà làm khoa học. GS Jerrence Collins, thuộc đại học Carnegie Mellon, Pittsburgh đã phát biểu:" Tôi nghĩ năng lượng hạch nhân là một hướng đi sai lầm vì việc xử dụng loại năng lượng nầy sẽ không bao giờ có được an toàn".

 

Ngược lại, TS Peterson có cái nhìn tích cực hơn trong khi suy nghĩ về tính an toàn trong vận hành một lò phản ứng là: 1- Cần phải có một hệ thống kiểm soát hữu hiệu để chấm dứt sự tách đôi của các trung hòa tử (nghĩa là chấm dứt hệ thống phát nhiệt) khi xảy ra tai nạn. Tai nạn ở Chernobyl năm 1986 đã xảy ra quá trầm trọng về mặt thiệt hại nhân sự vì lò hạch nhân ở nơi đây không có hệ thống tự động để ngưng phản ứng kễ trên. 2- Mục tiêu thứ hai cho an toàn lao động là làm thế nào để di dời các phế thải phóng xạ (radioactive decay) được sinh ra liên tục trong giai đoạn va chạm và tách rời giữa các trung hòa tử và hạch tâm Uranium. Nếu không được di dời đúng lúc, phế thải phóng xạ sẽ tích tụ ngày càng nhiều làm cho các ống phản ứng nóng thêm ra và làm hư hại các ống nầy, do đó lò phản ứng sẽ bị giảm hiệu năng và có thể xảy ra tai nạn. Đó là tai ạnn ở một lò hạch nhân Pennsylvania vào năm 1979. 3- Mục tiêu thứ ba là làm thế nào để ngăn chặn việc chất phóng xạ thoát ra ngoài không khí. Do đó, lò phản ứng phải hoàn toàn bị cô lập trong trường hợp có tai nạn.

 

Các lò phản ứng thuộc thế hệ I và II có hệ thống an toàn dựa theo các nguyên lý về cơ học, vật lý, và điện học như: hệ thống kiểm soát nhiệt, các chốt đóng/mở tự động, bơm tự động, hệ thống trao đổi nhiệt (làm nguội) tự động. Trong lúc đó các lò thuộc thế hệ III được trang bị hệ thống di dời phế thải phóng xạ và có hệ thống bơm nước để gỉai nhiệt tòan thể lò phản ứng; khi tai nạn xảy ra sẽ có một hệ thống an toàn tự động bắt đầu hoạt động ngay không cần có sự điều khiển của con người.

 

Hiện tại, trước khi thế hệ IV đi vào hoạt động, thế hệ III đang được cải tiến thêm để thỏa mãn 3 mục tiêu kễ trên. Đó là lò hạch nhân Westinghouse AP 1000 do Westinghouse Electris (US) sáng chế. Lò nầy, so với 3 thế hệ trước đã giảm được 50% chốt đóng mở, 35% bơm áp suất, 80% đường ống, và 80% dây cáp trong thiết kế mới nầy. Với sáng chế trên, lò AO 1000 cho đến năm 2010 sẽ giảm chi phí xây cất xuống còn $1000 đến $1200 Mỹ kim cho 1 KW điện.

 

 

Quan điểm dị biệt giữa các quốc gia

 

Tuy cùng chia xẻ một nhu cầu chung cho tương lai, cùng những tiện ích và tương đối an toàn trong việc bảo vệ môi trường đối với các lò hạch tâm ở thế hệ mới, các quốc gia trên thế giới vẫn cho thấy một quan niệm không đồng nhất về sự hiện hữu của các lò hạch nhân.

 

Đối với Hoa Kỳ, các lò phản ứng thuộc thế hệ IV thể hiện một chu trình sản xuất năng lượng sạch, từ đó họ cổ súy việc xử dụng loại năng lượng nầy. Nhu cầu phát triển của Hoa Kỳ trong vòng 20 năm tới cần thêm 335 triệu KW tương đương với việc xây thêm khoảng 50 lò hạch tâm.

 

Trong lúc đó tại các quốc gia Tây phương như Phần Lan chỉ dự định xây thêm môt lò nữa mà thôi trong tương lai. Pháp cũng đồng ý xây thêm nữa cho nhu cầu của nước nầy. Đối với các quốc gia khác như Đức, Hòa Lan, và Thụy Điển đang có dự án chấm dứt cáclò phản ứng hiện đang còn hoạt động. Và trầm trọng hơn nữa, là chính phủ Áo, Đan Mạch, và Ái Nhỉ Lan đã bày tỏ chống đối việc xử dụng loại năng lượng hạch nhân nầy. Chính phủ Ý đã quyết định hủy bỏ 4 lò phản ứng sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1987. Về phần Tay Ban Nha thì đang quản lý 9 lò phản ứng và có dự định xây thêm. Còn Anh Quốc thì hiện tại chưa tỏ thái độ đồng ý hay chống đối. Trong lúc đó, Nga Sô sau tai nạn Chernobyl đang xây thêm 6 lò và dự trù xây thêm 8 lò nữa trong một tương lai gần đây.

 

Vế phía Á Châu, Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật BẢn, Đại Hàn, và Đài Loan đều có chương trình tích cực cho việc xây dựng lò phản ứng hạch nhân. Gần đây nhất, các quốc gia nầy đã hoàn tất tất cả 17 lò, và đang dự định xây cất thêm 70 lò nữa. Trong lúc đó Phi Luật Tân vừa sắp sữa hoàn thành 90% lò hạch nhân, nhưng vì sự phản đối của người dân trong vùng về mức bảo đãm an toàn lao động trong vận hành đã bắt buộc chính quyền quốc gia nầy phải hủy bỏ dự án nữa chừng, tốn hao công quỹ hàng tỷ Mỹ kim.

 

 

Còn Việt Nam thì sao?

 

Việt Nam hiện có một Viện Năng Lượng Nguyên Tử ở Đà Lạt (Việt Nam Nguyên tử lực Cuôc cũ thời Việt Nam Cộng Hòa) do TS Phạm Duy Hiển làm Giám đốc hơn 20 năm nay. Theo báo chí trong nước thì Việt Nam dự định bắt đầu xây cất 2 lò phản ứng hạch nhân vào năm 2012 để có thể đi vào hoạt động năm 2015. Địa điểm dự trù là Phước Dinh, Phước Hải (Ninh Thuận), và Hòa Tân (Tuy Hòa, Phú Yên). Kinh phí dự trù cho hai dự án kể trên là 3 tỹ Mỹ kim.

 

Ngay sau khi quyết định nầy được phổ biến vào đầu năm 2004, nhiều nhà khoa học trong nước và ngoại quốc đã bày tỏ mối quan ngại và lên tiếng phản đối hai dự án trên.

 

Có nhiều lý do đưa ra cho việc phản đối nầy:

<Địa điểm chọn lựa của hai vùng hoang mạc khô cằn, thưa dân cư, không thuận tiện cho việc di chuyển của nhân công và ban quản lý nhà máy trong tương lai;

<Ở cả hai vùng, không có hạ tầng cơ sở tối thiểu cho nhu cầu yểm trợ việc xây cất, vận chuyển, cùng nhu cầu về xã hội, y tế, và sinh hoạt hàng ngày của công nhân như điện nước v. v...;

<Và nhất là, hiện tại Việt Nam chưa có khả năng cũng như không có dự kiến đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực nầy trong một tương lai gần.

<Vấn đề nguyên liệu nguyên tử là một vần đề cốt lỏi mà chắc chắn Việt Nam không thể nào chủ động  và kiểm soát được vì tùy thuộc vào quốc gia cung cấp. Chất Uranium và khả năng tinh luyện chất nầy để dùng cho lò phản ứng hạch nhân cần những nhân sự thật chuyên môn và nhiều kinh nghiệm mà việc đào tạo đòi hỏi ít nhất vài chục năm.

 

Xây cất một lò phản ứng hạch nhân chỉ là giai đoạn sau cùng trước khi hoàn tất các giai đoạn kễ trên. Về nhân sự, sự yếu kém về tri thức công nghiệp, kiến thức quản lý, cũng như khả năng chuyên môn trong lãnh vực nguyên tử và hạch nhân sẽ là những cản ngại lớn khiến cho việc thiết lập lò phản ứng khó có cơ may thực hiện hay chỉ thực hiện nữa chừng...

 

Thêm nữa, theo ước tính của một số nhà khoa học trong và ngoài nước thì tiềm năng của Việt Nam về than đá, dầu mỏ, khí đốt, cùng với việc khai thác và phát triển những loại năng lượng trong tầm tay như năng lượng gió, năng lượng mặt trời... Việt Nam vẫn còn có thể dư thừa năng lượng dùng cho việc phát triển kinh tế, xã hội đến năm 2030. Để rồi, vào thời điểm nầy, Việt Nam có đủ thời gian để chuẩn bị ngay từ bây giờ để có thể tránh được những cản ngại vưà kễ trên trong tương lai. Thêm nữa, trong giai đoạn nầy, những lò thuộc thế hệ IV đã được áp dụng trong một thời gian đủ để cho các quốc gia Tây phương có khả năng và kinh nghiệm điều chỉnh những bất ngờ trong vận hành.

 
Để rồi, sau đó Việt Nam có thể áp dụng công nghệ nầy an toàn hơn cho công cuộc phát triển quốc gia.
 
Tuy nhiên, cho đến ngày hôm nay (11/2009), nhà cầm quyền Việt Nam vẫn không để ý đến những khuyến cáo của các nhà làm khoa học trong nước hay hải ngoại, vẫn tiếp tục cho đấu thầu để xây dựng hai lò nguyên tử trên, và dự trù khánh thành vào năm 2016. Nhà thầu vẫn không ai khác hơn là Trung Cộng. Bài học Cherbonyl ở Liên Sô cũ còn đó, và bài học mới nhứt ở Dung Quất là phải đình chỉ sản xuất (cho đến bao giờ?) vì các hệ thống sensor nguyên tử dùng để điều chỉnh nhiệt độ và áp suất với độ chính xác cao không hoạt động theo quy trình sản xuất. Thảm nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
 
Kỹ thuật TC còn thô sơ, do đó xác suất xảy ra tai nạn càng lớn hơn nữa. Và nơi xây dựng nhà máy chính là nơi cư trú của đồng bào thiểu số Chàm ở tỉnh Ninh Thuận, một dân tộc hiếu hòa và đang trên đà bị diệt chủng.
 
Hải ngoại chúng ta phải làm gì để cứu một dân tộc đã được xem là có cùng nguồn gốc với dân Việt thời xa xưa?
 
Mai Thanh Truyết
1/1/13/2009

 

//////////////////////////////////////////////////