Houston, 23 tháng 11 năm 2015

Thưa anh Trần Nhơn,

Vừa đọc xong bản báo cáo tại Hội thảo nghiên cứu do Hội Thủy lợi Việt Nam tổ chức tại Đại học Thủy lợi Hà Nội ngày 3/11/2015 qua đề tài:"Một Số Vấn Đề Về Thực Trạng và Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Thủy Lợi Việt Nam – Giai Đoạn 2016 – 2025, Tầm Nhìn 2035", tôi có vài hàng cho anh đây. Trước hết là để chia sẻ cùng anh nỗi ưu tư của một người con Việt đối với một vấn đề chung của Đất và Nước, và sau nữa là có vài góp ý nhỏ cho tập tài liệu nầy.

Thưa anh, thấm thoát mà đã hơn bảy năm (2007), sau khi chúng ta trao đổi lần đầu tiên qua điện thoại do anh Phan Đình Minh kết nối qua chương trình "Từ Cánh Đồng Mây" ở Dallas, Hoa Kỳ. Tôi còn nhớ rất rõ là trong cuộc đàm thoại, anh và tôi đã phân tích nhiều về hướng giải quyết vấn đề sông Mekong và các đập nước thượng nguồn, cũng như việc dẫn thủy nhập điền và ngành thủy lợi v.v…Chỉ trong vòng hơn 35 phút mà mối thâm tình giữa anh và tôi ngày càng kết chặt hơn.

Trong suốt thời gian qua, chúng ta cùng trao đổi rất nhiều đề tài, tựu trung quanh vấn đề nước, một yếu tố tối cần thiết cho con người và sự phát triển quốc gia như:

·         Mấy vấn đề định hướng đổi mới quản lý nhà nước về tài nguyên nước;

·         Dự thào Luật Nước (sửa đổi), tháng 5/2012;

·         Quyết định Phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020;

·         Lấy nước nuôi nước và phát triển nước (23/3/2012);

·         Đề án "Lấy thủy lợi nuôi thủy lợi";

·         Water activities's Project;

Và đặc biệt Tập thơ "Cảm nhận 30 tháng tư" gồm trên 600 câu, v.v…

 

Tập thơ Cảm nhận 30 tháng Tư bắt đầu bằng "Ba mươi tháng Tư-miền ký ức, Đảng trị công thành triệu cốt khô.

Ba mươi tháng Tư dù đã qua

Bốn thập niên, ký ức lùi xa.

Văn minh chịu đầu hàng man rợ,

Mãi còn xanh bài học hôm qua!

 

Và điều tôi tâm đắc nhứt là Tập thơ Cảm nhận 30 tháng Tư kể trên anh gửi tặng tôi nhân dịp hội thảo tại Houston ngày 11 tháng 4 năm 2015 với đề tài "40 năm nhìn lại" do Đài truyền hình BYN tổ chức. Tôi đã kết luận buổi hội luận gồm bốn diễn giả là Lê Phát Minh, Lý Thái Hùng, Cù Huy Hà Vũ và cá nhân tôi, bằng bốn câu kết của anh gửi tặng cho buổi hội thảo là:

Chín mươi triệu dân đang đón đợi

Lời tạ tội thật lòng "đảng ta"

Cộng phỉ không lột xác thay đổi

Nhân dân, Trời Phật, ắt không tha

(TS Trần Nhơn, cựu Thứ trưởng bộ Thủy Lợi cs Việt Nam đã cảm tác ngày 30 tháng 4 năm 2015)

Trở lại tập tài liệu nhận được cách đây hơn một tuần, tôi vẫn còn tiếp tục nghiền ngẫm để ghi lại một số suy nghĩ cho vấn đề nước và thủy lợi cùng góp ý cùng anh về một vấn đề sống còn cho Việt Nam tương lai.

Thưa anh,

Có thể nói tập tài liệu nầy là sự đúc kết tất cả các tài liệu kể trên vào trong nầy.

Đây là tâm huyết của anh, một chuyên gia về thủy lợi, sống trọn đời cho sự sinh tồn của đồng bào cùng tổ tiên Lạc Hồng.

Đây cũng là tinh túy của một người con Việt, đem tất cả trí tuệ và tấm lòng yêu quê vào một suy nghĩ duy nhứt là "lấy thủy lợi nuôi thủy lợi và phát triển thủy lợi", điều mà anh đã un đúc hơn 30 năm trời trong nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Thủy lợi và hiện tại, chuyên viên thủy lợi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Chính những kinh nghiệm thực tế trong nghề thể hiện rõ qua bản báo cáo chuyên đề tháng 1/1990 tại Học viện Nguyễn Ái Quốc với đề tài:"Lấy công trình nuôi công trình, lấy thủy lợi nuôi thủy lợi – Bài học kinh nghiệm của Huyện Diên Khánh, Khánh Hòa".

Thưa anh,

Phải chăng phương châm của anh phảng phất suy nghĩ của Tổng thống Hoa Kỳ Benjamin Franklin: "Money makes money. And the money that money makes, makes money" để quản lý Bộ Thủy lợi và các cơ sở địa phương theo nguyên tắc tự trị, tự quản, thoát khỏi cơ chế xin-cho cố hữu của cung cách quản lý của nhà cầm quyền hiện tại?

Tầm quan trọng của ngành thủy lợi trong một quốc gia lấy nông nghiệp làm trọng tâm phát triển trong buổi sơ khai từ khi thoát ách đô hộ của thực dân Pháp, đã được chú ý qua việc hình thành Bộ Công chính (28/8/1945); để rồi được nâng cấp thành Bộ Thủy lợi Kiến trúc năm 1954, và Bộ Thủy lợi năm 1958. Nhưng, từ ngày 25/1/2010, theo quyết định của chính phủ, Bộ Thủy lợi lại biến thành Tổng cục Thủy lợi trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.

Phải chăng, chính vì tình trạng thay đổi về cơ cấu tổ chức nầy làm hạn chế sự hoạt động có tính cách đặc thù của từng địa phương và trung ương của Bộ Thủy lợi, khiến anh đưa ra đề nghị tái lập lại Bộ Thủy lợi và Quản lý Thiên tai, phải vậy không anh?

Trở lại bản báo cáo gồm sáu Chương mục khai triển về:

·         Hiện trạng các hệ thống công trình thủy lợi và năng lực tưới tiêu;

·         Thực trạng công tác quản lý các hệ thống công trình thủy lợi;

·         Tổ chức nhà nước ngành thủy lợi;

·         Tham khảo định giá nước trong nông nghiệp ở một số nước trên thế giới;

·         Cơ chế tạo vốn và tạo động lực để "lấy thủy lợi nuôi thủy lợ và phát triển thủy lợi bền vững";

·         Tóm tắt Đề án thành lập Bộ Thủy lợi và Quản lý Thiên tai.

Qua sáu Chương mục trên, anh đã phân tích rành rọt tình trạng thủy lợi trong điều kiện Việt Nam cũng như làm một cuộc so sánh tỷ giảo về tình trạng quản lý nước ở các quốc gia trên thế giới. Để rồi sau cùng,h kiến nghị nhà nước cần phải thu về một cơ quan ngang Bộ để quản lý nước hầu đáp ứng được nhu cần và chiến lược quốc gia về tài nguyên nước cho đến năm 2020. Theo anh, có thu một mối sẽ làm cho công tác quản lý đồng bộ hơn, tránh được cảnh "đâu một nơi, mình mẩy tay chân làm một nẻo" như hiện tai, điển hình là việc xây nhiều đập nhỏ trên cùng một khúc sông dài khoảng vài chục km mà có đến hàng 5,6 đập ở Quảng Ngãi, tạo ra nhiều tai nạn hàng năm cho dân làng sống chung quanh đập mỗi khi mùa mưa đến!

Thưa anh,

1.Trong báo cáo của anh có nêu lên mức tăng trưởng diện tích đất nông nghiệp trồng lúa từ năm 2006 (7.324.880 hecta) đến năm 2014 là 7.813.700 hecta, tức tăng 6,6%. Và cũng trong năm nầy Việt Nam xuất cảng 7,1 triệu tấn gạo. Những con số tăng trưởng trên làm cho tôi cảm nhận được một vài điều không ổn khi nhìn thấy mức số lượng nhập cảng thực phẩm nông nghiệp từ Trung Cộng vào năm 2014 qua Viện Thống kê của Việt Nam sau đây:

·         Việt Nam nhập cảng US $337 triệu trái cây và "đồ hàng bông" dù Việt Nam có khả năng sản xuất những mặt hàng đó;

·         Việt Nam nhập cảng US$798 triệu gạo, mặc dù Việt Nam cũng đã xuất cảng 7,1 triệu tấn gạo cho năm nầy!

·         Việt Nam nhập cảng US$800 triệu hải sản Trung Cộng, mặc dù xuất cảng mặt hàng nầy khắp nơi;

·         Việt Nam nhập cảng US$76,2 triệu cà phê, mặc dù Việt Nam cũng đã xuất cảng hơn 1 triệu tấn cà phê;

·         Việt Nam nhập cảng US$759 triệu khoai mì (cassava), mặc dù Việt Nam đã là một nhà cung cấp lớn của sản phẩm nầy.

·         Các "đồ hàng bông" nhập cảng gồm: gừng, khoai lang, cà rốt, tỏi, hành, cà tô mát, chanh, bắp cải, thậm chí cả…hẹ nữa (!) (chưa kể những mặt hàng nhập lậu qua biên giới phía Bắc, ước tính trên dưới 50% so với con số chánh thức).

Có một cái gì không ổn, có một cái gì nghịch lý ở đây không anh?

2. Về việc quản lý nguồn nước ngầm, tôi xin trích nhận định và phân tích của Nguyễn Minh Quang, Kỹ sư Thủy văn (Hydrologist), Kỹ sư Trưởng của một Công ty Nghiên cứu và Quản lý Nguồn nước ở Los Angeles, Hoa Kỳ như sau: "Về Nước Ngầm, California có trữ lượng nước ngầm khoảng 850 triệu acre-feet phân phối tương đối đồng đều trên toàn tiểu bang. Nhưng vì phẩm chất kém hoặc ở quá sâu, chỉ có phân nửa số nước nầy có thể sử dụng được. Nước ngầm cung cấp 30% nhu cầu nước hàng năm của California, nhưng con số có thể lên đến 60% trong những năm hạn hán. Mặc dù có trữ lượng lớn, nước ngầm ở California bị khai thác quá mức khiến mực nước ngầm và mặt đất sụt giảm. Trong năm 1999, lượng nước ngầm bị khai thác quá mức là 2,2 triệu acre-feet trên toàn tiểu bang và 800.000 acre-feet ở Thung lũng Trung tâm (Central Valley). Kể từ đó, việc khai thác quá mức tiếp tục gia tăng. Từ năm 2011 đến 2014, lượng nước ngầm bị khai thác quá mức ở Thung lũng Sacramento và Trung tâm lên đến 12 triệu acre-feet mỗi năm. (1acre-foot = 1.233 m3).

Nhưng vì, Việc Quản Lý và Sử Dụng Nước Thiếu Cân Đối,

Cho nên, dưới ảnh hưởng của những người cấp tiến và các tổ chức bảo vệ môi trường cực đoan, với quan niệm "… con người là thứ yếu và phải dành quyền sử dụng nước cho môi trường," việc quản lý và sử dụng nước ở California chú trọng đến việc bảo vệ môi trường, chiếm 50% lượng nước mặt, trong khi nước sử dụng cho người dân ở đô thị chỉ có 10%. Vào năm 2007, chánh án liên bang Oliver Wanger ở Fresno ra phán quyết đồng ý với Hội đồng Bảo vệ Tài nguyên Quốc gia (National Resources Defense Council (NRDC)), một tổ chức môi trường, đòi chánh quyền liên bang phải cắt giảm 80% số lượng nước cung cấp cho nông nghiệp và đô thị để duy trì lưu lượng trong sông để bảo vệ cá hồi và cá lòng tong (delta smelt) có nguy cơ tuyệt chủng trong châu thổ Sacramento. Khoảng 800.000 acre-feet mỗi năm, đủ cung cấp cho 800.000 gia đình hoặc trồng 200.000 acres hoa màu, đã chảy thẳng ra biển. Nhưng việc sử dụng nước nầy dường như không có hiệu quả, vì một khảo sát mới nhất trong tháng 4 năm 2015 chỉ tìm thấy 1 con cá lòng tong so với 143 con trong tháng 4 năm 2012. Theo Đại học California ở Davis, sự sụt giảm của cá lòng tong trong châu thổ Sacramento kể từ thập niên 1970 cho đến nay trùng hợp với sự gia tăng lượng nước cung cấp cho nông nghiệp và đô thị, nhưng nguyên nhân chính xác thì vẫn chưa được xác định. Vấn đề ô nhiễm và việc du nhập các giống cá mới được xem như là một nguyên nhân của sự sụt giảm cá lòng tong".

 

Và KS Quang cũng đề nghị sau:

 

"Giảm Lượng Nước Dùng Cho Hoa Màu Có Hiệu Quả Kinh Tế Thấp

California là tiểu bang nông nghiệp đứng đầu ở Hoa kỳ với hơn 350 loại hoa màu được canh tác. Một số hoa màu sử dụng rất nhiều nước nhưng lại không có hiệu quả kinh tế cao. Thí dụ như cỏ alfalfa sử dụng 18% lượng nước dùng cho nông nghiệp nhưng chỉ mang lại 4% lợi tức, cỏ sử dụng 11% nước nhưng chỉ có 1% lợi tức, lúa sử dụng 8% nước nhưng chỉ có 2% lợi tức, bắp dùng 7% nước nhưng chỉ có 2% lợi tức, và bông vải sử dụng 4% nước nhưng chỉ có 1% lợi tức. Nói cách khác, dùng 1 acre-foot nước để canh tác chỉ thu được 47 $US nếu trồng cỏ, 223 $US nếu trồng lúa, 258 $US nếu trồng bắp, 287 $US nếu trồng alfalfa, và 551 $US nếu trồng bông vải; trong khi thu được 1.875 $US nếu trồng cây ăn trái hoặc hạt.  Hơn thế, một vài hoa màu sử dụng nhiều nước lại được trồng thặng dư để xuất cảng. Trong năm 2008, số alfalfa xuất cảng, từ 617.000 đến 765.000 tấn, cần ít nhất 450.000 acre-feet nước để canh tác; trong khi số lúa xuất cảng, chiếm khoảng 52% mức sản xuất, cần ít nhất 1.1 triệu acre-feet nước để canh tác. Vì alfalfa cần thiết cho kỹ nghệ chăn nuôi bò sữa của tiểu bang nên không thể cắt giảm quá nhiều, nhưng chỉ cần giảm 10%, California có thể tiết kiệm hàng năm khoảng 617.000 acre-feet nước. Nếu không phải xuất cảng alfalfa và lúa, số nước tiết kiệm hàng năm có thể lên đến 2,17 triệu acre-feet. Số nước nầy đủ để cung ứng cho ¼ nhu cầu nước của đô thị ở California".

 

Qua hai nhận định trên, quả thật tôi thấy có nhiều nghịch lý trong việc quản lý nguồn nước ở Việt Nam và trồng tỉa các sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam:

·         Tại sao Việt Nam lại tập trung sản xuất gạo để xuất cảng mà lại còn nhập cảng gạo Trung Cộng?

·         Tại sao Việt Nam là một quốc gia xuất cảng cà phê và hải sản trên khắp nơi mà lại nhập cảng cà phê và hải sản Trung Cộng?

·         Nên nhớ, sản xuất một tấn gạo cần gấp nhiều nước hơn sản xuất một tấn "đồ hàng bông".

 

Phải chăng Việt Nam bị áp lực nào đó của Trung Cộng, do đó, phải nhập cảng các mặt hàng trên mặc dù Việt Nam có khả năng tự túc hay sản xuất dư thừa?

 

Về một số mặt hàng "đồ hàng bông" (hoa màu), thiết nghĩ cần phải giảm thiểu việc sản xuất lúa gạo và thay vào đó bằng việc luân canh các hoa màu cần thiết cho nhu cầu thực phẩm hàng ngày cho dân chúng.

 

Tăng gia sản xuất lúa gạo càng làm cho nông dân nghèo thêm vì lợi nhuận trong việc gia tăng năng suất không thể nào bù đấp được chi phí phân bón và thuốc trừ sâu rầy cũng như một số chi phí khác nữa, cùng "nạn ép giá" của cán bộ thu mua là giai đoạn sau cùng của việc bần cùng hóa nông dân!

 

Thưa anh Trần Nhơn,   

 

Những lời góp ý trên đây không ngoài nhằm mục đích góp phần vào bản báo cáo mà anh đã bỏ rất nhiều tim óc và thời gian trong việc biên soạn. Trong tâm tình của một người con Việt, một lần nữa, xin chia sẻ và đồng cảm với mối quan tâm của anh trong việc thành lập Bộ Thủy lợi và Quản lý Thiên tai với mục đích tạo nên một cơ quan thống nhứt nhằm quản lý nguồn nước hữu hiệu hơn trong việc phát triển quốc gia.

Hy vọng có một ngày nào đó, anh và tôi sẽ cùng song bước góp phần vào việc khơi lại nguồn nước hợp lý cho bà con nông dân, và chấn chỉnh "cơ chế" NƯỚC cho ứng hợp với Đạo Trời…

 

TS Mai Thanh Truýêt

Dean, Department of Chemistry, Faculty of Pedagogy, University of Saigon, Vietnam

Chairman, Vietnamese American Science & Tachnology Society – VAST, USA

 

___________________________________________________

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/


 "A nation that destroys its soils destroys itself.

Forests are the lungs of our land, purifying the air

and giving fresh strength to our people." Franklin D. Roosevelt

 

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-

 

Đọc sách Huỳnh Kim Hiếu

 

"….một Sĩ Quan lên tiếng :"Xin Trung Tá và các Sĩ Quan nên di tản trước để bảo vệ bí mật cơ quan, còn tất cả Hạ sĩ quan và anh em binh sĩ sẽ ở lại với tôi để  chiến đấu sau khi di tản gia đình,  vì trong lúc nầy mổi quân nhân là một tay súng".  Tất cả Sĩ Quan, Hạ sĩ quan và anh em binh sĩ dơ tay đồng ý ở lại chiến đấu". 

Ngay trong phần mở đầu, tác giả Huỳnh Kim Hiếu, Trung tá An ninh Quân đội đã xác định tấm lòng sắc son với Miền Nam Việt Nam. Lời của một sĩ quan dưới quyền trên đây cũng chính là lời của "người con Việt" trong những giây phút dầu sôi lửa bỏng nầy, những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa.

Từ đó, tác giả bắt đầu kể lại "câu chuyện từng ngày" từ 28/4 cho đến ngày 15/6, ngày trình diện đi "học tập cải tạo" tại Gò Vấp. Và "cuộc phiêu lưu ký" của Huỳnh Kim Hiếu tiếp theo sau đó, trải dài  hơn 17 năm từ Bắc chí Nam. Tác giả kể lại như vừa qua một giấc…kinh kha, từ ngày vào trại với 10 bài học chính trị, rồi kê khai ba đời lý lịch cá nhân.

Trong suốt thời gian bị đày ải, tác giả với một bản năng sinh tồn chắt nịch đã:"đi tìm triết lý đông phương:" "Tôi đi tìm cái vui trong cái khổ.  Ngồi ngắm mây bay, nhìn trăng lên, ngắm cây cỏ xung quanh tôi. Nghe tiếng chim hót, nghe tiếng dế gáy, quan sát sự sinh hoạt của loài kiến, loài côn trùng, nghe các bạn kể chuyện tiếu lâm, chuyện kiếm hiệp là những trò giải trí, là thú vui để quên đau khổ và quen sự đau khổ trong tù". 

Tác giả lại chiêm nghiệm thêm cuộc đời bằng:"Tôi đi tìm cái vinh trong cái nhục.  Việt Cộng cố tình làm nhục chúng tôi để trả thù. Họ bắt chúng tôi ăn ở như con heo, con lợn, họ hành hạ chửi bới, mắng nhiếc như loài thú vật. Họ bắt chúng tôi bốc phẩn người  bằng tay, sống cạnh các đống phân người, cạnh thùng nước tiểu, nhưng tôi không lấy đó làm nhục.  Cái nhục lớn nhất của đời tôi là đã để cho Cộng sản Hà Nội xâm chiếm miền Nam, làm khổ đồng bào Việt Nam".

Và sau cùng:"Tôi hảnh diện chiến đấu vì Tổ quốc, vì hạnh phúc đồng bào, tôi có chính nghỉa, chính đạo vì dân vì nước. Trai trung thờ một  Chúa, một ngọn cờ vàng.  Tổ tiên của tôi là con Lạc cháu Hồng, con Rồng cháu Tiên chứ không phải là loài khỉ loài vượn.  Tổ quốc của tôi là nước Việt nam, chứ không phải là Liên Sô".

Để sinh tồn trong cuộc sống trong trại tù thiếu thốn cộng thêm nỗi hành hạ thể xác và tinh thần qua bao cuộc thẩm tra vì tác giả là một Trung tá An ninh Quân đội VNCH, hãy nghe lời tường thuật sau nhiều lần chuyển trại:"Lợi dụng lúc nhàn rổi, chúng tôi sinh hoạt tự do vừa để giải trí vừa để giết thời gian và vừa để trao dồi trí thức như tổ chức được nhiều lớp học tiếng Tàu, tiếng Pháp, tiếng Anh, học sửa radio, sửa đồng hồ, học châm cứu, hay cứu thương, học chấm tử vi, bói toán , chỉ tay v.v… do các Bác sĩ , các kỹ sư,  giáo sư , các Sĩ quan gốc Trung Hoa, gốc Pháp,  các anh tù biết chuyên môn giảng dạy. Do sự giảng dạy của anh Bác sĩ phó giám đốc quân y viện Cộng hòa, tôi đã học xong một khóa huấn luyện về Châm cứu và bắt đầu đi thực hành điều trị các anh tù bị những bịnh thông thường".

Tất cả những lời trên đã diễn tả tỏ rõ đoạn đường chiến binh trong cuộc hành trình hơn 17 năm dài từ khi rời khỏi các trại tù từ miền Nam và làm chuyến viễn du ra Bắc ở tân Yên Bái (tháng 4/1978), rồi chuyển qua trại Tân Lập K2, Vĩnh Phú (7/78), rồi K1 (1/80), rồi Thanh Phong, Thanh Hóa (12/81).

Sau cùng tác giả lại xuôi Nam về Z30, Xuân Lộc từ trại A, xuống B, và qua C và cuối cùng về lại Z30D, Hàm Tân (4/91).

Trong suốt cuộc hành trình, tác giả luôn tỉnh táo và quan sát từng nơi, từng địa phương, cũng như trong khi di chuyển, để rồi vẽ ra một bức tranh vân cẩu với tất cả thất tình lục dục trong cũng như ngoài trại. Đó là:

·         Một vài tình cảm hé lộ của cán bộ Cộng sản còn chút lương tri (?);

·         Cảnh vượt ngục, bị bắt lại, và bị xử tử của nhiều sĩ quan gan dạ bất khuất;

·         Bản năng sinh tồn của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa;

·         Tình cảm của bà con đối với người lính VNCH qua việc giúp đở vài củ khoai, hay vài cái bánh ngọt trong lúc chuyển trại v.v…;

·         Và nhứt là, thời gian thử thách qua các cuộc "làm việc" với quản giáo, đặc biệt đối với những quản giáo từ trung ương xuống…

Tóm lại, cuốn sách nói lên tính chiến đấu kiên cường của hầu hết các chiến sĩ thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Không chấp nhận sống NHỤC, sống HÈN.

Thà chết chứ không hề chịu KHUẤT PHỤC.

Bây giờ, hơn 40 năm sau biến cố Quốc Nhục, mỗi người trong chúng ta, những người con Việt, những người lính chiến Việt Nam Cộng Hòa vẫn tiếp tục chiến đấu. Chiến đấu cho một Việt Nam tự do, độc lập, nhân quyền, và nhứt là cởi trói cho hơn 90 triệu bà con đang còn chịu quá nhiều áp bức và bị bóc lột dưới ách thống trị xuyên qua cơ chế chuyên chính vô sản của Đảng Cộng sản Bắc Việt.

Quyển hồi ký "17 Năm Tù Cộng Sản" chắc chắn sẽ là một chứng liệu góp phần ghi nhận những chứng tích tàn bạo và phi nhân của chế độ hiện hành vào một giai đoạn lịch sử đen tối của dân tộc. Và chính sự tàn bạo và phi nhân đó sẽ là nguyên nhân cho sự báo tử của cộng sản Bắc Việt trong một ngày không xa…

Chắc chắn chúng ta sẽ có một ngày về lại Sài Gòn trong một tương lai gần đây.

Xin trân trọng giới thiệu cùng Quý bạn đọc, quyển hồi ký "17 Năm Tù Cộng Sản" của cựu Trung tá An ninh Quân đội VNCH Huỳnh Kim Hiếu.

Mai Thanh Truyết

Mt người con Vit

 

 

 

 

 

___________________________________________________

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/


 "A nation that destroys its soils destroys itself.

Forests are the lungs of our land, purifying the air

and giving fresh strength to our people." Franklin D. Roosevelt

 

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-

 


_________________Thượng Đỉnh "Paris 2015": Thay Đổi Khí Hậu

 

                                                   

Nhập đề


Những thương thuyết quốc tế về viễn tượng hâm nóng toàn cầu bắt đầu từ Thượng đỉnh Rio de Janeiro (Rio Summit), Ba Tây năm 1992. Vào năm 1997, Nghị định Thư Kyoto ra đời ở Japan với nhiều quyết định cho toàn cầu trong đó, tất cả các quốc gia hứa sẽ giảm sự phát thải khí carbonic (CO2) vào năm 2005 ngang bằng với lượng phát thải của mỗi quốc gia ở năm 1995. Đều nầy đã được nhắc lại ở Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) một lần nữa vào năm 2005, ở Chương trình Hành động ở Bali (Bali Action Plan) năm 2007, và nhắc nhở việc thực thi ở Copenhagen năm 2009 với mục tiêu chung là giới hạn sự hâm nóng toàn cầu dưới 20C.

Vào năm 2010, Hội nghị Cancun (Cancun Conference) ghi nhận mục tiêu tập thể tất cả các quốc gia đã ký vào Nghị định thư Kyoto như là một kết ước chung về việc thành lập Quỹ Khí hậu Xanh (Green Climate Fund) và việc thiết lập Hội nghị Durban (Durban Platform). Từ đó, thành hình Thỏa thuận Khái niệm Căn bản Liên Hiệp Quốc về Thay đổi Khí hậu (UN Framework Agreement on Climate Change).

Năm 2011, tại hội nghị Durban, các nước đã đồng ý trong năm 2015 phải đạt được một nghị định thư, một văn kiện được coi là công cụ pháp luật hoặc một giải pháp có sức mạnh pháp lý. Từ đó đến nay chưa thấy có các cuộc thảo luận và các câu hỏi vẫn còn để ngỏ.

Hội nghị Doha (Doha Conference) tiếp theo sau làm sáng tỏ thêm quyết tâm của các quốc gia phát triển trong việc gia hạn Nghị định thư Kyoto trong giai đoạn 2013 -2020 và được ký kết tại Bali 2014.

Hội nghị Warsaw 2013 (2013 Warsaw Conference) đã quyết định một bước quan trọng là mỗi quốc gia trên thế giới PHẢI "công bố' "mức đóng góp" mcủa mình trong việc giải quyết vấn nạn hâm nóng toàn cầu.

Và từ đó, Hội nghị kỳ thứ 21 về Thỏa thuận Khái niệm Căn bản Liên Hiệp Quốc về Thay đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc ra đời tại Paris.

Từ ngày 30 tháng 11 cho đến 11 tháng 12, tại Paris sẽ diễn ra "Hội nghị kỳ thứ 21 về Thỏa thuận Khái niệm Căn bản về Thay đổi Khí hậu của mọi Thành viên Liên Hiệp Quốc" (21th Session of the Conference of the Parties to the United Nations Framework Convention on Climate Change – UNFCCC). Đây là một thượng đỉnh hết sức quan trọng cần thiết để đi đến một giải pháp đồng thuận về sự biến đổi khí hậu áp dụng cho mọi quốc gia nhằm mục tiêu gìn giữ sự hâm nóng toàn cầu tăng trưởng dưới 20C cho đến cuối thế kỷ 21 nầy.

Thỏa thuận Khái niệm Căn bản trên là kết quả  của Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992 (Rio de Janeiro Earth Summit), và có hiệu lực kể từ ngày 21 tháng 3 năm 1994 do 196 quốc gia phê chuẩn. Đây là một nguyên tắc phổ quát ghi nhận rằng ảnh hưởng do con người tạo dựng cũng như các quốc gia kỹ nghệ là nguyên nhân chính tạo ra tình trạng của trái đất ngày hôm nay. Do đó, 196 "thành viên" (parties) đã phê chuẩn sẽ nhóm họp trong thời gian kể trên và sẽ phải đưa ra những quyết định; và đó là kết quả sau cùng của Nghị hội Thành viên (The Conference of the Parties - COP). Hội nghị nầy sẽ nhóm họp thường xuyên hơn hàng năm sau đó khi Thượng đỉnh đi đến kết luận và đề ra mục tiêu cần thiết để khống chế hay hạn chế sự thay đổi khí hậu toàn cầu…

Theo tin từ REUTERS/Christian Hartmann ngày 30/11/2015 tường trình từ Paris:"Với sự tham dự của 150 nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo chính phủ cùng với 196 đoàn đại biểu của các nước, các tổ chức quốc tế gồm khoảng 10.000 người và số lượng phóng viên báo chí tương đương, Hội nghị Quốc tế về Khí hậu - COP21, hôm nay 30/11/2015 đã chính thức khai mạc tại Le Bourget, ngoại ô phía bắc thủ đô Paris.

Hội nghị lần thứ 21 của Liên Hiệp Quốc về chống biến đổi khí hậu lần này đặt mục tiêu là đưa ra được một thỏa thuận lịch sử để hạn chế quá trình tăng nhiệt độ toàn cầu ở mức 2°C".

Đặc phái viên RFI Thanh Phương từ Bourget tường trình như sau:"…Rất nhiều nước, trong đó có Việt Nam, trong dịp này, đã lập những gian nhà hoặc phòng triển lãm, giới thiệu những nỗ lực của nước mình trong cuộc đấu tranh chống biến đổi khí hậu.

Riêng Việt Nam, vào chiều (30/11), có tổ chức cuộc đối thoại cấp cao với các đối tác quốc tế về hợp tác ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, với sự tham gia của đại diện nhiều nước như Úc, Đan Mạch, Đức, Hòa Lan, Phần Lan, Pháp và đại diện các tổ chức như Chương trình Phát triển LHQ (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB)».

Đến lúc này, toàn thế giới đều đã nhận thức được một trong những nguyên nhân khiến khí hậu trái đất ấm lên là do phát thải từ việc sử dụng năng lượng hóa thạch, phương thức sản xuất nông nghiệp, nạn phá rừng gia tăng.

Để chuẩn bị cho Hội nghị Paris lần này, 183 trên tổng số 195 quốc gia đã công bố kế hoạch cắt giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính. Hội nghị COP21 sẽ phải đưa ra được các cam kết có ràng buộc. Tiến trình thương lượng vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là khi vấn đề chống biến đổi khí hậu đụng chạm đến vấn đề kinh tế.

Trước đó, vào ngày hôm 29/11, do đang trong tình trạng khẩn cấp, mọi cuộc biểu tình bị cấm. Tuy nhiên, tại quảng trường La République ở Paris, một nhóm gồm khoảng vài trăm người chống COP21 vẫn biểu tình và đã xảy ra xô xát với lực lượng giữ gìn trật tự. Kết quả là hơn một trăm người đã bị câu lưu".

 

Tại sao có những cuộc biểu tình?

·         Các tổ chức bảo vệ môi trường Philippines tập hợp biểu tình tại Manila, kêu gọi tinh thần trách nhiệm của giới lãnh đạo - REUTERS /Erik De Castro.

·         Một ngày trước lễ khai mạc Thượng đỉnh khí hậu thiên niên kỷ COP21 tại Paris, dân chúng ở nhiều thủ đô trên địa cầu tổ chức những cuộc tuần hành khổng lồ. Cuộc «trường chinh» bước sang

ngày thứ ba gây áp lực đòi 150 nhà lãnh đạo thế giới đạt thỏa thuận cao vọng về khí hậu, hầu tránh cho trái đất nạn diệt vong.

·         Từ hôm 27/11/2015, hàng chục ngàn cuộc biểu tình đã được tổ chức trên khắp thế giới để đòi hỏi những biện pháp mạnh chống gia tăng nhiệt độ khí quyển và gây áp lực với đại diện của 195 quốc gia thương lượng tại Le Bourget, ngoại ô phiá bắc Paris.

·         Theo AFP, do vị trí địa lý, cuộc tuần hành đầu tiên trong ngày Chủ nhật 29/11/2015 huy động 45.000 người ở Sydney, hàng ngàn người đội mưa xuống đường ở Seoul. Phong trào vận động tiếp nối tại New Delhi, rồi Luân Đôn cho đến New York, Rio de Janeiro, Mexico ở châu Mỹ.

·         Tại Sydney, người biểu tình mang biểu ngữ kêu gọi tinh thần trách nhiệm của giới chính trị: Đoàn kết thế giới, Không có kế hoạch B, Phải tấn công vào nguồn cội….

·         Một thành viên của tổ chức chống nạn đói Oxfam nhận định: những người ít gây ô nhiễm nhất lại là nạn nhân đầu tiên lãnh hậu quả của hiệu ứng nhà kính. Hàng loạt quốc đảo trong vùng Thái Bình Dương có nguy cơ bị nước biển xóa tên.

·         Gần đến ngày diễn ra hội nghị quốc tế về khí hậu COP21 tại Paris, ngày 12/11/2015, hai tổ chức phi chính phủ công bố một báo cáo trong đó tố cáo các quốc gia trong G20 mỗi năm bỏ ra gần 500 tỉ đô la đầu tư cho lĩnh vực năng lượng hóa thạch, một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng biến đổi khí hậu. Hai tổ chức phi chính phủ Overseas Development Institut và Oil Change International, khẳng định trong bản báo cáo « chính phủ của nhóm nước G20 mỗi năm đầu tư khoảng 452 tỉ đô la hỗ trợ cho sản xuất năng lượng hóa thạch, mặc dù họ đã cam kết tiến tới xóa sổ năng lượng hóa thạch để tránh tai họa biến Báo cáo còn đưa ra so sánh: Số tiền đầu tư nói trên cho năng lượng hóa thạch cao gấp gần bốn lần tổng chi phí thế giới cho năng lượng tái tạo. (121 tỉ đô la/năm). Các tác giả báo cáo nói trên còn ghi nhận Trung Cộng là nước trong nhóm G20 đầu tư tài chính lớn nhất cho năng lượng hóa thạch (77 tỉ đô la mỗi năm). (Anh Vũ)

Tất cả vì n hững lới hứa!

Cho đến nay, chỉ có 56 quốc gia – chịu trách nhiệm gần 70% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính – chính thức thông báo phần đóng góp. Mức đóng góp này được ghi nhận là không đủ để hạn chế mức tăng nhiệt độ không quá 2°C.

Cũng cần nên nhớ, trong kết ước Nghị định thư Kyoto năm 1997, các quốc gia đồng ý tiết giảm sự phóng thích khí carbonic vào môi trường là giảm thiểu 12% so với lượng khí thải vào năm 1995. Nhưng tiếc thay, chỉ có một vài quốc gia như Anh và Đức…thực hiện kết ước mà thôi!

Ngoại trưởng Pháp  cảnh báo : Nếu không có các nỗ lực đặc biệt, nhiệt độ Trái đất hoàn toàn có thể tăng quá 4°C từ nay đến cuối thế kỷ. 2°C là mức tăng nhiệt độ cho phép nhân loại kiểm soát được các biến đổi khí hậu, vượt quá mức này, các thảm họa thiên nhiên được coi là vượt quá khả năng đối phó.

·         Lời hứa của quốc gia tổ chức Pháp trong vấn đề năng lượng, không khí và khí hậu như sau:"La loi de Transition énergétique franchit avec succès une nouvelle étape: La France exemplaire est en marche vers la COP21"

Hứa là sẽ:

-       Giảm thiểu 40 % phát thải khí nhà kinh (green house effects) cho đến năm 2030 so với năm 1990;

-       Giảm xử dụng năng lượng hóa thạch (fossil energy) ở mức 30% vào năm 2030 so với năm 2012;

-       Xử dụng năng lượng "sạch"  chiếm 40% cho năng lượng điện vào năm 2030;

-       Giảm thiểu việc xử dụng năng lượng xuống 50% vào năm 2050 so với năm 2012;

-       Giảm thiểu 50 % lượng rác phế thài vào năm 2050 so với năm 2012;

 

Hứa cho nhiều, nhưng chẳng thấy…

 

 

 

 

China women wear masks as haze from smog caused by air

pollution hangs over the Forbidden City in Beijing.

·         Hoa Kỳ và Trung Cộng năm 2014 đã có một bước tiến quan trọng khi ấn định mục tiêu giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính từ nay đến sau năm 2020. Washington cam kết cho đến năm 2025 sẽ giảm 26% đến 28% so với năm 2005, còn với Bắc Kinh là đến năm 2030. Trong lời tuyên bố, hai nguyên thủ nhấn mạnh đến các biện pháp mới hoặc đã có, chứng tỏ hai nước phát thải nhiều nhất trên hành tinh đóng vai trò nghiêm túc và «sẽ đưa thế giới đến một hiệp ước toàn cầu về khí hậu». Như vậy mà … Outdoor air pollution contributes to the deaths of an estimated 1.6 million people in China every year, or about 4,400 people a day, according to a newly released scientific paper. Điều cần nhấn mạnh là, Hoa Kỳ phát thải khoảng 7 tỷ tấn CO2 trong năm 2014 và Trung Cộng, 10 tỷ; trong lúc đó, Mỹ sản xuất khoảng 19% sản phẩm toàn cầu, và Trung Cộng sản xuất 21% mà thôi.  

 

Rồi cũng tiếp tục hứa!

 

·         Là một quốc gia phát khí carbonic đứng hàng thứ tư trên thế giới, Ấn Độ vừa cam kết giảm bớt lượng thải khí CO2phát triển năng lượng tái tạo, góp phần cải thiện môi trường. Ngày 01/10/2015, Ấn Độ trình lên LHQ một bản báo cáo với nội dung cam kết đẩy mạnh vai trò của các loại năng lượng tái tạo và giảm bớt lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Không đi sâu vào chi tiết, nhưng New Delhi hứa từ nay cho đến năm 2030 Ấn Độ sẽ cố gắng giảm 35 % lượng khí thải carbonic so với thời điểm của hồi năm 2005. Ngoài ra New Delhi cũng thông báo phát triển năng lượng tái tạo để trong 15 năm nữa, năng lượng sạch bảo đảm đến 40% nhu cầu tiêu thụ của quốc gia Nam Á này. Tỷ lệ năng lượng tái tạo trên được sử dụng tại Ấn Độ hiện chỉ là 12 % theo thẩm định của tổ chức bảo vệ môi trường Greenpeace. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu nâng tỷ lệ năng lượng sạch đang từ 12% lên thành 40% Ấn Độ cần được quốc tế hỗ trợ cả về phương diện tài chính lẫn công nghệ. Tuy "hứa" như trên đây, nhưng Ấn Độ vẫn trách các quốc gia đã phát triển như sau:"Ấn Độ biện minh cho quan điểm của mình và đòi được quyền phát triển. Theo Le Monde, Ấn Độ trước hết bảo vệ quyền lợi riêng: Ở một đất nước mà hàng trăm triệu hộ gia đình chưa có nhà vệ sinh, không có đủ điện nước để sinh hoạt, thì việc chống biến đổi khí hậu vẫn là một điều gì đó còn trừu tượng xa vời, một thứ xa xỉ phẩm mà người nghèo chưa dám nghĩ tới. Các nhà phân tích đơn cử một ví dụ minh họa cho sự đối chọi Nam-Bắc: người giàu muốn đóng tiền bảo hiểm nhà cửa, trong khi người nghèo bữa ăn chưa no, tiền đâu mà tính đến chuyện mua nhà.

 

Vì thế cho nên, để đạt được mục tiêu, hội nghị COP21 phải giải quyết đầu tiên hết một vấn đề: các nước giàu chịu chi bao nhiêu tiền và trong bao lâu, để khuyến khích giúp đỡ các nước nghèo (hay các quốc gia đang phát triển) nỗ lực chống biến đổi khí hậu. Hiện tại vẫn có hơn 300 triệu dân Ấn Độ không có điện và quốc gia đông dân này thường xuyên bị mất điện.

 

Phải chăng lại có thêm một lời hứa…Lèo nữa?

 

Vài suy nghĩ về Hiện tượng Hâm nóng toàn cầu

Với hàng triệu động cơ vận hành mỗi ngày, hàng triệu máy cắt cổ, máy thổi lá chuyển vận, nhiều triệu lon/chai của đủ loại nước ngọt, bia tiêu dùng..., thán khí (CO2) thênh thang đi vào bầu khí quyển cùng với thân nhiệt và thán khí thoát ra từ buồng phổi của hơn 7 tỷ con người. Và thêm nữa, các quy trình công nghệ sản xuất/chế biến, việc xử dụng lò sưởi trong mùa đông, cùng các công nghệ khai thác quặng, khí v.v... đã đóng góp không nhỏ vào lượng thán khí trong không khí. Hiện tượng hâm nóng toàn cầu khởi sinh từ các nguyên nhân kể trên.

Các khoa học gia đã ước tính rằng nếu không có biện pháp làm giảm thiểu lượng thán khí thải hồi thì lượng khí trên sẽ tăng gấp đôi trong vòng 50 năm tới nếu giữ cùng một nhịp độ phát triển như hiện nay. Trong thiên nhiên, cây xanh là nguồn trợ lực chính hấp thụ khí carbonic; nhưng với đà phá rừng ở Phi châu, Á châu, Nam Mỹ... e rằng con số ước tính 50 năm trên sẽ bị thâu ngắn lại.

Năm 1990, loài người đã thải ra độ 27 tỷ tấn thán khí, và số lượng nầy đã được cây cỏ hấp thụ độ 50%. Ngày nay, 2015, với đà phát triển tăng nhanh, với số lượng dân số không ngừng tăng trường, và với rừng (cung cấp cây xanh) bị tàn phá do phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, hoặc đô thị hóa v.v… chắc chắn lượng khí carbonic sẽ tăng gấp đôi dưới 50 năm tới, nếu thế giới không có biện pháp tích cực để tiết giảm sự phát thải nầy.

Với tính cách thông tin, một người Mỹ thải ra trung bình hàng năm 19 tấn khí CO2, so với người Tàu là 4,7 tấn, và người Ấn Độ, 2,4 tấn. Số liệu nầy được suy ra từ tất cả các nguồn tạo ra CO2 trung bình cho nhu cầu và tiện nghi cho sinh hoạt của con người như xe cộ, điện năng dùng hàng ngày, nước nóng, máy điện toán, điện thoại v.v…)

Nhưng số lượng trên ngày càng tăng dần với đà phát triển. Thống kê ghi nhận rằng từ năm 1902 đến 1990 nhiệt độ bầu khí quyển tăng lên khoảng 1oC; nhưng trong khoảng thời gian từ 1995 đến 1998, nhiệt độ tăng lên đến mức độ báo động là 0.25oC.

Và chuyện gì sẽ xảy ra khi nhiệt độ trong bầu khí quyển tăng lên?

Trước hết, khối lượng băng hà ở Bắc cực và Nam cực sẽ tan dần và lần lần thu hẹp diện tích đất sinh hoạt của loài người. Trên các đại dương, chỉ cần nhiệt độ tăng thêm 1,5oC thì hầu hết các vùng sinh thái của san hô và phiêu sinh vật sẽ bị hủy diệt, làm cạn kiệt nguồn lương thực biển vì tôm cá không còn nơi trú ngụ, sinh sản (nhiệt độ trung bình ở các vùng biển nhiệt đới là 30,5oC).

Hai hiện tượng trên đang xảy ra trên trái đất của chúng ta với vận tốc đáng ngại!

Có nhiều biện pháp để ngăn chận và giảm thiểu việc tăng trưởng lượng thán khí trên toàn cầu:

  • Hạn chế và kiểm soát lượng thán khí thải hồi trong kỹ nghệ qua khuyến cáo Kyoto năm 1997 do hầu hết các quốc gia trên thế giới soạn thảo và đồng ý.
  • Hoặc xử lý lượng khí thải hồi bằng phương pháp tách rời và cô lập hoá học (sequestration technology). Thán khí cô lập được bơm vào dưới lòng biển sâu và nước biển sẽ hấp thụ khối lượng trên. Hoặc thán khí được bơm vào các vùng quặng mỏ than đá từ đó than sẽ phản ứng với thán khí để hình thành khí methane không ảnh hưởng lên hiện tượng hâm nóng toàn cầu.

 

Cả hai phương pháp nầy đã đi dần đến hoàn chỉnh và có thể được đem ra áp dụng trong những năm sắp đến.Tuy nhiên biện pháp dùng thiên nhiên để hấp thụ khí carbonic vẫn là phương pháp tối ưu nhứt.

1-Thay vì phá rừng để phục vụ cho nhu cầu kỹ nghệ, cần phải tái tạo rừng và trồng thêm rừng mới để tăng thêm diện tích cây cỏ hầu ngăn chận hay làm chậm tiến trình hâm nóng toàn cầu.

2- Và sau hết, con người cần phải tự nguyện hạn chế việc sử dụng năng lượng, nguyên vật liệu bừa bãi.

Nếu thực hiện được các việc trên hy vọng chúng ta có thể giải quyết được vấn nạn sinh tử của nhân loại.

Vài suy nghĩ cho toàn cầu     

Như đã nói ở các phần trên, vấn nạn ảnh hưởng đến môi sinh trên toàn thế giới trong thời gian tới cùng với những biện pháp phòng ngừa và hạn chế ô nhiễm đều có tính cách liên đới ảnh hưởng lên mọi quốc gia. Xu hướng toàn cầu hóa trong lãnh vực nầy sẽ không có biệt lệ nào khác. Tuy nhiên, sự phân bố không đồng đều về mặt phát triển kỹ thuật, trình độ dân trí, điều kiện kinh tế-chính trị của đa số các quốc gia đang phát triển không cho phép họ có tầm dự phóng xa hơn những vấn đề sống còn trước mắt.

Do đó, các nước hậu kỹ nghệ cần phải thông cảm và có sự thật tâm giúp đở về nhân sự, tài chánh và kỹ thuật...để các nước đang phát triển có điều kiện theo kịp đà tiến hoá và cùng góp tay chia sẻ việc bảo vệ môi sinh để cùng tồn tại. Giai đoạn thực dân bốc lột, vét đoạt tài nguyên của những nước nghèo sẽ không còn thấy trong thế kỷ thứ 21 nầy nữa. Trong chiều hướng suy nghĩ đó, vài đề nghị gợi ý sau đây nói lên những bước cần nên làm đối với các nước hậu kỹ nghệ và những nước đang phát triển.

  • Trước hết, biện pháp làm giảm thiểu hay hạn chế sự hâm nóng toàn cầu là ưu tiên hàng đầu cho mọi quốc gia, đặc biệt đối với các quốc gia hậu kỹ nghệ. Ngân sách quốc gia cần được tăng cường trong nghiên cứu và cần kiểm soát chặt chẽ hơn nữa các cơ xưởng công nghệ. Hạn chế hay nghiêm cấm các cơ sở sản xuất tạo ảnh hưởng tác hại đến lớp ozone trên bầu khí quyển. Điều cần phải làm trước nhất là "giáo dục" người dân ở những nước nầy giảm bớt phung phí trong việc sử dụng năng lượng, tài nguyên thiên nhiên và chấm dứt việc phí phạm nguồn nước sinh hoạt. Một thí dụ điển hình là, chỉ trong một ngày vận động cho việc làm sạch bầu khí quyển bằng cách yêu cầu dân chúng sử dụng xe đạp hoặc đi bộ, hay dùng xe công cộng...thủ đô của Colombia đã giảm 27% lượng thán khí thải hồi so với mức sinh hoạt bình thường hàng ngày.
  • Đối với định mức tiêu chuẩn tối thiểu mà cơ thể con người có thể chấp nhận được đối với các hoá chất, kim loại độc hại... trong không khí và trong nguồn nước cần phải được soạn thảo trên bình diện toàn cầu và phải có sự đồng thuận của tất cả. Một khi đã chấp thuận một định mức nào đó, mọi quốc gia đều phải chấp hành nghiêm chỉnh. Một thí dụ cụ thể cho tiêu chuẩn chấp nhận được của sự hiện diện của arsenic trong nước uống hiện tại là: 10ug/L cho Hoa Kỳ, 15 ug/L ở Pháp và 10 ug/L đối với tiêu chuẩn LHQ. Từ những khác biệt trên có thể nảy sinh ra sự so bì và lơ là của các quốc gia trong việc bảo vệ môi sinh chung.
  • Các phát minh khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cần được thật thà trao đổi với các quốc gia đang phát triển. Trợ giúp các nước nầy trong việc trao đổi thông tin kỹ thuật, đào tạo kỹ thuật viên và khai triển các quy trình công nghệ có hiệu quả cao và an toàn cho môi sinh. Mọi phát minh mới cần được thông báo cho toàn thể thế giới để tránh sự thụt lùi và thâu ngắn cách biệt giữa các quốc gia giàu-nghèo.
  • Đối với những phát minh hoàn chỉnh, cần phải tiến hành nhanh giai đoạn thử nghiệm (prototype) và áp dụng tùy theo yếu tố xã hội-kinh tế-môi sinh cho từng vùng hay quốc gia. Làm được như thế sản phẩm vật chất sẽ được sản xuất nhiều hơn, sự phát thải khí carbonic sẽ ít hơn, và chuyển tải đến những nơi có nhu cầu sớm hơn nhất là đối với các nước ở Phi châu, Á châu và Nam Mỹ.
  • Về nguồn nước, các nước hậu kỹ nghệ cần hạn chế hoặc thay thế việc sử dụng hoá chất trong các quy trình sản xuất hiện có và trong tương lai thay thế bằng những nguyên liệu có trong thiên nhiên để hạn chế hay giảm thiểu mức độc hại trong các phó sản thải hồi. Với chiều hướng nầy, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã thành công trong việc áp dụng vào sản xuất và xử lý phế thải. Duckweed (một loại bèo) dùng để hấp thụ lượng nitrate trong nguồn nước đang được sử dụng rộng rãi; cây bạch dương (poplar) hấp thụ một số phế thải hữu cơ. Việc thay thế nguyên liệu hoá chất bằng các hợp chất thiên nhiên như dùng carbohydrate (sản phẩm có trong tiến trình chế biến phân gia súc) để thay thế hydrocarbon để chế tạo các loại plastic có thể tự hoại được trong thiên nhiên. Các việc làm trên cần được khích lệ và phát triển thêm bằng cách đẩy mạnh tài trợ cho nghiên cứu.
  • Giáo dục là mối quan tâm hàng đầu để mọi người có thể đến gần nhau và cùng nói chung một ngôn ngữ trong lãnh vực khoa học kỹ thuật. Do đó các quốc gia đang mở mang cần đầy mạnh việc phát triển giáo dục ở cấp trung học chuyên nghiệp và đại học để tiếp nhận và trao đổi các công nghệ mới dễ dàng hơn.  Chính phủ, các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu và tư nhân cùng hợp tác trong nghiên cứu và kiến thức cùng dựa trên tinh thần trao đổi chân chính.  Việc nâng cao dân trí người dân ở những nước đang phát triển trong việc bảo vệ môi trường sống chung quanh cần phải có sự hỗ trợ của cộng đồng các nước hậu kỹ nghệ qua IMF, WB... để bảo trợ tài chánh-nhân sự- kỹ thuật cùng thúc đẩy tiến trình cải cách.
  • Thông tin tin học, một khám phá tuyệt vời vào thập niên sau cùng của thế kỷ 20, cần được đem ra áp dụng rộng rãi cho các nước chậm phát triển. Thế giới cần trợ giúp cho các nước trên thiết lập mạng lưới thông tin khoa học tân tiến nầy, tối thiểu ở trong môi trường đại học, nghiên cứu...để các sinh viên, nghiên cứu viên có điều kiện học hỏi, thu nhập những kiến thức mới để rồi áp dụng vào điều kiện cụ thể cho từng quốc gia một.
  • Dựa trên tiêu chuẩn toàn cầu, khi đã đồng ý ngưng hay cấm sản xuất một sản phẩm nào có khả năng tác hại lên con người như các loại thuốc sát trùng, các quốc gia hậu kỹ nghệ cần phải chấm dứt việc sản xuất và chuyển tải qua các nước đang phát triển vì nhu cầu lợi nhuận. Việc làm nầy cần phải chấm dứt và thế giới cần phải quy định biện pháp chế tài cho quốc gia vi phạm. Sẽ không còn công dân hạng nhì trong thế kỷ nầy! (Hóa chất DDT đã bị LHQ cấm sử dụng và sản xuất từ năm 1973, nhưng Nga Sô và TC vẫn tiếp tục sản xuất và Việt Nam vẫn nhập cảng và hóa chất nầy là sản phẩm nền tảng cho hầu hết các loại hóa chất hỗn hợp dưới xưng nghĩa hóa chất bảo vệ thực vật).
  • Sau hết, việc xuất cảng mọi phế thải kỹ nghệ dưới bất cứ hình thức nào cần phải chấm dứt. Đây là một hành động vô nhân đạo không thể tồn tại được cho thế kỷ 21, thế kỷ của hoà bình và môi trường xanh dương.

 

Lãnh đạo của các nước đang phát triển cũng đừng vì nhu cầu ngoại tệ nặng cho quốc gia mà chấp nhận những loại hóa chất và phế thải độc hại trên.

 

Các thế hệ sau đó sẽ không bao giờ tha thứ cho các hành động nầy.

 

 

Mai Thanh Truyết

Hội Khoa học&Kỹ thuật Việt Nam (VAST)

COP21 – 2015

 

Ghi chú: Vietnam is among the top 10 countries with the worst air pollution, according to a study released during this year's World Economic Forum in Davos.

Vietnam's Air (Effects on Human Health) ranking was 123rd among the 132 countries surveyed.

India has the world's worst air pollution, beating out China, Pakistan, Nepal and Bangladesh, according to the study.

Vietnam's water supply (Effects on Human Health) was ranked 80th of the 132 surveyed

 

Truyet—
I just got back from the Climate Justice Rally on the National Mall, and my excitement is still bubbling over. I was so proud to join hundreds of EDF activists and thousands of others in Congress's backyard, to echo the Pope's call for climate action inside the Capitol.

"I am convinced that we can make a difference and I have no doubt that the United States—and this Congress—have an important role to play. Now is the time for courageous actions and strategies, aimed at implementing a culture of care and an integrated approach to combating poverty, restoring dignity to the excluded, and at the same time protecting nature." –Pope Francis

We're seeing momentum on climate action like never before—and you can join the call for progress right now!

 _________________


Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/


 "A nation that destroys its soils destroys itself.

Forests are the lungs of our land, purifying the air

and giving fresh strength to our people." Franklin D. Roosevelt

 

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-

 

//////////////////////////////////////////////////