​Tình Trạng Môi Trường Việt Nam sau 40 năm​
 


 

Năm 1975, từ khi nước nhà hoàn toàn thống nhất, Việt Nam đã bắt đầu đặt kế hoạch phát triển trên toàn thể quốc gia. Từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đến kế hoạch 5 năm lần thứ hai. Nhưng trong hai kế hoạch ngũ niên đầu tiên nầy, mọi cố gắng của Việt Nam đã đưa đất nước lâm vào tình trạng thực sự kiệt quệ và bế tắc.

 

Sinh hoạt kinh tế hầu như thất bại hoàn toàn. Việt Nam gần như đứng bên lề vực thẳm.

 

Năm 1986, đứng trước hiểm họa diệt vong, chính sách phát triển của Việt Nam đã rẽ sang một bước ngoặc, Việt Nam bắt buộc phải mở cửa để chào gọi đầu tư ngoại quốc hầu cứu nguy nền kinh tế đang kiệt quệ. Từ đó, kinh tế Việt Nam lần lần đi lên từng bước một. Nông ngư nghiệp phát triển và nông dân bắt đầu tương đối có đủ lương thực và không còn ăn độn như những năm trước đó nữa.

 

Lợi tức đầu người từ 180 Mỹ kim (1980) tăng dần từ 7 đến 9% mỗi năm tiếp theo. Nhưng cho đến năm 1997, mức tăng trưởng khựng lại vào khoảng 4- 5%  cho đến những năm sau 2000. Từ đó Việt Nam bắt đầu lại vươn lên và đạt được mức tăng trưởng trung bình hàng năm vào khoảng 7- 9% trong nhiều năm.

 

Bên cạnh việc phát triển và tăng trưởng kinh tế kể trên, Việt Nam lại phải đối mặt với một vấn nạn môi trường do phát triển ngày càng trầm trọng thêm ra. Và vấn nạn nầy là một thách thức lớn nhất của Việt Nam trong những ngày sắp đến.

 

Mục đích của bài nói chuyện hôm nay là trình bày lần lượt 3 yếu tố nổi bật ảnh hưởng đến môi trường qua gần 40 năm phát triển của Việt Nam.

 

Đó là sự phá rừng, sự gia tăng dân số, và sự phát triển không cân bằng với việc bảo vệ môi trường cùng những hệ lụy nảy sinh do ba yếu tố trên.

 

1-    Ảnh hưởng môi trường qua việc phá rừng 

 

Trước chiến tranh thứ hai, diện tích rừng nguyên sinh của Việt Nam là 19 triệu mẫu chiếm 58% diện tích cả nước. Cho đến năm 1943 rừng chỉ còn lại 14,1 triệu mẫu (43%); và đến năm 1990 tình trạng càng tệ hại hơn nữa, diện tích rừng chỉ còn 9,1 triệu mẫu (27,7%). Theo báo cáo năm 2002 của Ngân hàng Thế giới (WB), kể từ năm 1999 trở đi, hàng năm mức độ đốn rừng để xẻ gỗ được ước tính là 2 triệu m3. Ngoài ra còn phải kể đến việc cháy rừng vào mùa khô và việc chuyển đổi rừng trong việc nuôi tôm như vùng rừng tràm, đước ở Cà Mau.

 

Việt Nam cũng có chương trình trồng rừng sau khi nhận thức được nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường trong việc phá rừng bừa bãi. Do đó, "chương trình trồng rừng 327" đã được phát động từ năm 1994 đến nay.

 

Chỉ tiêu cho đến năm 2010 là cố gắng trở lại mức bình thường vào thời điểm 1943, nghĩa là từ bây giờ cho đến cuối kế hoạch (2015) phải trồng thên 5 triệu mẫu rừng, chưa kể đến số diện tích rừng bị hủy diệt hàng ngày. Chi phí trồng rừng được ước tính là 1,1 triệu Mỹ kim/mẫu.

 

Và Việt Nam nếu muốn đạt chỉ tiêu nầy thì hàng năm phải trồng thêm 1.000.000 mẫu rừng. Do đó tính khả thi của chương trình trồng rừng 327 khó có khả năng thực hiện được.

 

Về ĐBSCL, trong hiện tại chỉ còn 5% rừng che phủ và đã mất đi khoảng 175.000 mẫu rừng ngập mặn tính đến 2003. Cho đến năm 2012, ước tính vê việc phá rừng ngập măn lên trên tren 250.000 hecta. Rừng ngập mặn ở nơi nầy thể hiện nhiều lợi điểm sau đây:

 

  • 1- chống lại sự xói mòn của biển, cùng sự hạn chế cường độ của bảo nhiệt đới,
  • 2 - hạn chế được sự nhiễm mặn vào sâu trong vùng đất liền,
  • 3 - nhất là bảo vệ được đa dạng sinh học cho toàn vùng. Kỹ nghệ nuôi tôm và cá basa đã đánh mất đi các lợi điểm nầy và hiện đang để lại một di hại không nhỏ cho toàn vùng hiện tại,
  • 4 – đây là nơi trú ngụ và sinh sản của cua,tôm, cá cùng nghêu sò v.v…

 

Ảnh hưởng lên đất: Hậu quả trước mắt ảnh hưởng từ việc phá rừng là sự thoái hóa của đất. Đất mất đi độ phì nhiêu và sự cân bằng dinh dưỡng. Lớp đất thịt trên mặt sẽ bị cuốn trôi sau những cơn mưa lũ vì không còn cây và rễ để giữ đất lại. Điều nầy được tỏ rõ trong năm 2001, lần đầu tiên trong lịch sử nước sông Hương (Huế) đã biến thành đục và độ pH trở thành kiềm trong mùa khô. Và hàng năm, nước mặn ngày càng vào sâu trong đất liền vào mùa khô. Năm 2013, nước mặn đã vô khỏi Cần Thơ ở Hậu Giang và vùng Mỹ Tho, Bến Tre cùng sông Vàm Cỏ Đông cũng bị nhiễm mặn.

 

Ngoài sự thoái hóa của đất do nguyên nhân trên, sau gần 30 măm mở cửa và phát triển ồ ạt trong nông nghiệp, Việt Nam mất đi 2 tỷ tấn đất/năm (nguyên nhân chính yếu là do việc phá rừng) hay tính trung bình đất bị sói mòn tùy theo vùng và đã thất thoát từ 50 – 3200 tấn/mẫu/năm ảnh hưởng đến 23 triệu mẫu trên toàn quốc, chiếm 70% diện tích quốc gia.

 

Ảnh hưởng lên nước mặt: Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Quốc gia về Cung cấp Nước sạch và Vệ sinh môi trường năm 2003, nguồn nước ở Việt Nam ngày càng bị khan hiếm và ô nhiễm. Sự thoái hóa nầy tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng trưởng kinh tế, nhất là ở những năm gần đây. Nhu cầu nước cho nông nghiệp chiếm 88%, và cho kỹ nghệ chiếm 7%.

 

  • Theo một báo cáo năm của Sustainable Việt Nam 2012, sông Tiền đang bị ô nhiễm trầm trọng vì nước thải sinh hoạt và nước thải kỹ nghệ làm cho DO (Oxygen Demand) trong nước giảm, COD (Chemical Oxygen Demand), và BOD5 giảm. Tất cả chảy thằng vào các mạch chính của sông và các phụ lưu, ảnh hưởng lên sức khỏe của người dân ở các tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, và Tiền Giang

 

  • Các nguồn nước thải từ khu gia cư, từ các trung tâm kỹ nghệ, khu chế xuất, đất nông nghiệp v.v...đã xâm nhập vào nguồn nước mặt, nước ngầm, thậm chí ảnh hưởng đến phẩm chất nước ở vùng duyên hải nữa. Nước sinh hoạt gia cư, nước thải kỹ nghệ, và nước rỉ từ các bãi

 

rác là nguyên nhân chính yếu cho việc ô nhiễm hữu cơ trong nguồn nước mặt đặc biệt ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẳng, Cần Thơ v.v... căn cứ theo báo cáo trên. Theo một nghiên cứu vào năm 2012, vùng Hà Nội và phụ cận gồm 200 hồ và sông trong số đó 98% đã bị ô nhiễm nặng.

 

  • Về vùng duyên hải, trong vòng 3 thập niên trở lại đây, hơn 96% san hô của Việt Nam đều bị ảnh hưởng do tác động của con người như đánh bắt cá bằng thuốc nổ, bằng hóa chất độc hại như cyanur, hoặc bị nhiễm độc do phế thải, đặc biệt ở vịnh Hạ Long, Cát Bà (Hải Phòng), Ninh Thuận, Bình Thuận, và Khánh Hòa.

 

  • Theo một nghiên cứu thăm dò từ năm 1994 đến 1997 tại 142 địa điểm san hô dọc theo bờ biển Việt Nam, kết luận của bảng thăm dò cho thấy chỉ còn độ 1% tổng lượng san hô chưa bị ô nhiễm xâm nhập mà thôi. Riêng tại khu vực duyên hải miền Bắc, theo ước tính  của Hải học Viện Nha Trang thì trong vòng 20 năm trở lại đây, công nghệ khai thác than Quảng Ninh và các vùng phụ cận đã hủy diệt trên 50% lượng san hô ở vùng biển nầy. Và ảnh hưởng trầm trọng nhứt là vùng cá nục nổi tiếng ở vùng biển Phan Thiết lần lần bị tuyệt chủng vì cá đã di  dần qua vùng biển Trường Sa và Phi Luật Tân.

 

2-    Ảnh hưởng do sự gia tăng dân số

 

Với diện tích 325.000 Km2 trong đất liền và 336.000 Km2 nếu tính luôn các hải đão, Việt Nam phải đối mặt với sự gia tăng dân số trầm trọng từ 44 triệu vào năm 1975 lên đến trên 92 triệu năm 2014.

 

Mật độ trên 1 Km2 tăng từ 135 người đến 283 người, đứng hàng thứ tư về mật độ cao trên thế giới. Toàn thể Việt Nam hiện tại có khoảng 12 triệu mẫu đất canh tác cho trồng trọt và chăn nuôi.

 

Chính sự gia tăng dân số quá nhanh ngay sau khi chiến tranh vừa chấm dứt là một trong những nguyên nhân chính cho việc phá rừng. Cùng với mức gia tăng trên, và do nhu cầu sinh tồn, con người đã làm cho môi trường ngày càng xuống cấp nhanh hơn qua việc đốt rừng làm rẫy, độc canh trên đất dốc, đồi núi mà không có biện pháp chống sói mòn.

 

Về trồng trọt, vì không được hướng dẫn cho nên việc luân canh không có kỹ thuật, không hợp lý cũng như không có kế hoạch, nhất là các loại cây công nghệ như: mía, khoai mì, khóm, lúa, đậu v.v...

 

Thêm nữa, cũng vì mức gia tăng dân số cho nên đất đã bị xử dụng liên tục, không có thời gian nghĩ ngơi để lấy lại sự cân bằng thiên nhiên.

 

Cũng như vì nhu cầu tưới tiêu, cho nên nông dân không ngần ngại xử dụng nguồn nước thiếu phẩm chất như nước phèn, nước lợ....và hậu quả tất nhiên của việc làm nầy là mức độ nhiễm mặn, nhiễm phèn lấn sâu vào lục địa và đất đang có nguy cơ trở thành sa mạc hóa trong tương lai, và không thể phục hoạt được. Theo ước tính năm 2007 của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc, nguy cơ đất bị hoang hoá hay sa mạc hóa ở Việt Nam có thể lên 7 triệu mẫu.

 

Việc di dân từ các vùng cao miền Bắc vào cao nguyên Trung phần không có kế hoạch rõ rệt cũng như không có nguồn trợ lực về tài chính và kỹ thuật cho việc di dân lúc ban đầu càng làm tăng thêm mức độ suy thoái của đất trong chăn nuôi và trồng trọt. Thêm nữa, mức độ ô nhiễm qua việc xử dụng hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật bừa bãi làm cho tiến trình hủy hoại môi trường càng nhanh hơn.

 

3-    Phát triển không cân bằng với việc bảo vệ môi trường

Báo cáo "Hiện trạng môi trường Việt Nam 2000" soạn thảo do Chương trình Môi trường LHQ và Trung tâm Tài nguyên Khu vực Á châu Thái Bình Dương (UNEP-RRCAP)  nêu lên ngay trong phần mở đầu, có nhận định như sau:"Nói chung, cho đến nay (2000) chưa nảy sinh các vấn đề môi trường đối với các khu công nghiệp (KCN) mới".

 

         

                                                               

Nhưng, mọi sự việc đã hoàn toàn thay đổi sau 10 năm phát triển ồ ạt tại Việt Nam. Năm 2007, trên cả nước có tất cả 89 KCN hoặc KCX, và hiện nay, 2014, có 265 KCX hiện diện trên dảy đất hình chữ S thân yêu. Và tệ hại hơn cả là trong ngần ấy KCX, chưa tới 1% nhà máy có khả năng thanh lọc phế thải khí, rắn, và lỏng…

 

Sông Sài Gòn và sông Đồng Nai hàng ngày tiếp nhận trên dưới 500.000 m3 nước thải do đó tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngày càng trầm trọng thêm ra.

 

Còn phế thải rắn đi vào các bãi rác lộ thiên mà không qua công đoạn gạn lọc hay biến chế.

 

Tại những nơi có KCN đang hoạt động không khí bị ô nhiễm hạt bụi và thậm chí có những khí độc thoát ra như khí clor, khí sulfurơ (SO2), và hơi chì, thủy ngân v.v...Hà Nội được WHO ghi nhận là mức ô nhiễm không khí ngang hàng với thành phố New Delhi và Karachi.

 

Hàng năm đều có báo cáo ghi nhận "chưa nảy sinh ra vấn đề môi trường", thử hỏi những vấn nạn môi trường vừa nêu trên chưa phải là vấn đề môi trường hay sao?

 

Trong "Chiến lược Bảo vệ Môi trường Quốc gia 2010 – 2020" do Bộ Khoa học, Công nghệ & Môi trường thực hiện đã được nghiên cứu trong nhiều năm, được sự tham gia đóng góp ý kiến của nhiều nhà quản lý, nghiên cứu của hầu hết Bộ/Ngành ở trung ương và nhiều Ban/Ngành ở các địa phương.

   Nhiều nhà tài trợ và chuyên gia nước ngoài cũng đã tham gia tư vấn và hoàn thành chiến lược nầy... Và Chiến lược đã rút ra 9 giải pháp để thực hiện việc bảo vệ môi trường Việt Nam trong tương lai nhu sau:

1-    Tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức về môi trường;

2-    Tăng cường vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp, tư nhân trong bảo vệ môi trường;

3-    Tăng cường và đa dạng hóa đầu tư bảo vệ môi trường;

4-    Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về môi trường;

5-    Mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút sự tài trợ của quốc tế;

6-    Kết hợp chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia với chiến lược phát triển kinh tế xã hội;

7-    Lựa chọn hành động ưu tiên;

8-    Giám sát và đánh giá việc thực hiện chiến lược;

9-    Trách  nhiệm và các cơ quan thực hiện;

 

Tính đến nay, 2015, theo sự quan sát của nhiều chuyên gia nội địa và hải ngoại, 9 giải pháp đề ra vẫn chưa được thực hiện đúng mức vì chỉ là những giải pháp tô vẽ trên giấy tờ và không được khai triển ra từng kế hoạch chi tiết để có thể phối hợp hành động.

 

Ngay cả trong phạm vi quản lý của nhà nước là ưu tiên hàng đầu mà luật lệ và việc phân công, phân nhiệm còn trồng tréo nhau, gây thêm khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất.

 

Luật Môi trường đã được cải sửa lần thứ 17 (2004) mà vẫn còn quá nhiều kẻ hở tạo điều kiện thuận lợi thêm cho những móc ngoặc và tham nhũng, cũng như nhà nước phải chịu nhiều thất thu qua các tệ trạng kể trên.

 

Một điều căn bản chính yếu trong luật môi trường là quy định các nhà sản xuất công, kỹ nghệ phái thiết lập "báo cáo" tác động môi trường" (EIA – Environmental Impacts Assessement) trước khi dự án được chấp thuận và cấp giấy phép. Nhưng cho đến nay, có trên dưới hàng triệu cơ sở công nghiệp lớn nhỏ trên toàn quốc đang hoạt động, vẫn chưa có nơi nào nộp bảng nghiên cứu tác động môi trường theo đúng quy định của luật, đặc biệt là việc kkhai thác bauxite tại Cao nguyên Trung phần Việt Nam, và các khu công nghiệp dành riêng cho TC khai thác như Khu Vũng Áng (Hà Tỉnh) thiết lập các nhà máy gang thép, một công nghệ tạo ra rất nhiều phế thải khí và lỏng mà không qua thanh lọc! 

 

 

Kết Luận

 

Bộ luật Nước đã được Quốc hội CS phê chuẩn năm 2013, gồm 10 Chương và 75 Điều, trong đó:

 

  • Điều 12-2 ghi rõ:"Việc quy hoạch và quản lý các khu công nghiệp khu du lịch, khu dân cư tập trung, bịnh viện, khu chăn nuôi và giết mỗ gia súc có quy mô lớn, bãi chứa chất thải, khu chôn cất phóng xạ, rác thải, khu nghĩa trang…phải tuân theo các quy định của Luật nầy và pháp luật về Bảo vệ môi trường, bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước".

 

Luật như thế đó, trên bình diện cả nước hiện nay có thể nói, tất cả sông ngòi từ Bắc chí Nam hầu như bị nhiểm độc hoàn toàn, thậm chí nhiều sông không còn dòng chảy nữa như khu vực sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cầu ở miền Bắc và vài khúc sông Đồng Nai, Sài Gòn ở miền Nam…Và sông Thu Bồn ở miền Trung, chỉ một khúc sông chưa đầy 20Km mà đã xây dựng hàng 5,6 đập…gây tai nạn vỡ đập và xả đập hàng năm mỗi khi mùa mưa đến, làm thiệt hại tài sản và nhân mạn rất nhiều.

 

Trong Chiến lược quốc gia về Tài nguyên Nước đến năm 2020, cũng vừa được Quốc hội CS phê chuẩn, có ghi trong Mục B.b, B.c, và B.d:

 

  • Bảo đảm dòng chảy tối thiểu, duy trì hệ sinh thái thủy sinh theo quy hoạch, trọng điểm là các hồ chứa nước, đập dâng lớn, quan trọng;"
  • Bảo vệ tình toàn vẹn và sử dụng co hiệu quả các vùng đất ngập nước, và của sông cho các trọng điểm, các tầng chứa nước quan trọng;"
  • Chấm dứt tình trạng thăm dò khai thác, sử dụng tài nguyện nước, và xả nước thải vào nguồn nước…"

 

Luật là luật, nhưng việc kiểm soát, thanh tra hầu như được bỏ ngỏ trong mọi vi phạm…vì thế lực, vì "phong bì"…tạo nên tình trạng vô tổ chức trong việc sử dụng nguồn nước.

 

Một quốc gia như Việt Nam với vũ lượng hàng năm trung bình từ 1.500 mm đến 2.000mm và hệ thống sông ngòi chằn chịt từ Bắc chí Nam mà người dân không có đủ nguồn nước sạch để sinh hoạt.

 

Đó là một bất hạnh lớn của dân tộc!

 

Quả thật tình trạng nầy chỉ xảy ra ở Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mà thôi!

 

Nhìn lại gần 40 năm quản lý môi trường của một quốc gia Việt Nam thống nhất, đất nước đã được gồm thu vào một mối, và công cuộc điều hành quốc gia được tóm gọn vào một chiều hướng duy nhất là: "Phát triển quốc gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

 

Dù có cố gắng tối đa để cho một nhận xét tích cực, nhưng quả thật, Đất Nước Việt Nam đang đi dần đến bế tắc, nhất là gần 30 năm sau khi có kế hoạch mở cửa từ năm 1986 trở đi..

 

Phát triển Việt Nam trong nông nghiệp và chăn nuôi để phục vụ cho nhu cầu xuất cảng để có một số ngoại tệ nặng, nhưng cán cân chi thu vẫn làm cho Việt Nam càng thiếu hụt thêm ra theo thời gian mặc dù có rất nhiều nguồn vốn đầu tư do ngoại quốc đổ vào.

 

Việc xuất cảng hàng năm trung bình 6,7 triệu tấn gaọ, thu nhập vào khoảng 2 tỷ triệu Mỹ kim, liệu có cân bằng được việc nhập cảng 10 triệu tấn phân bón, cùng hàng trăm ngàn tấn hóa chất bảo vệ thực vật để có được lượng gạo xuất cảng trên hay không?

 

Hay đó chỉ là một chính sách quản lý bao tử của người dân bằng cách bảo đảm một mức sống tối thiểu cho hàng chục triệu nông dân trên cả nước?

 

Việc xuất cảng hàng năm 1 tỷ Mỹ kim qua việc xẻ gỗ đã để lại quá nhiều vấn nạn môi trường cho sự thất thoát rừng và những hệ lụy đã được phân tích ở phần trên, và mức thu nhập nầy có thể khỏa lấp được những mất mát do vấn nạn trên hay không? Hay nguồn tài nguyên căn bản của đất nước đang bị hao mòn dần?

 

Theo một báo cáo về Chỉ số Môi trường Bền vững 2006 (2006 Environmental Sustainability Index) do Diễn đàn kinh tế nhóm họp tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 3, 2006, Việt Nam đã đứng cuối bảng trong 8 quốc gia ASEAN. Đó là Malaysia đứng đầu với 54,0 điểm, Miến Điện 52,8, Lào 52,4, Campuchia 50,1; và Việt Nam đứng chót bảng với 42,3 điểm. Chỉ số trên đo đạc do nhóm giáo sư ở Đại học Yale và Columbia (Hoa Kỳ) thực hiện, căn cứ vào 21 chỉ số môi trường như sau: khí thải nhà kính, phẩm chất nước, không khí, đất, sức khỏe môi trường, trình độ khoa học và công nghệ, khả năng quản lý tài nguyên, khả năng giải quyết áp lục môi trường v.v...

 

Và Chỉ số Môi trường bền vững 2012 tại Davos ghi nhận:

 

  • Phẩm chất không khí ở Việt Nam được xếp hạng 123rd trên 132 quốc gia được khảo sát;
  • Nguồn nước ảnh hưởng lên sức khỏe chiếm hạng 80th trên 132 quốc gia;

 

So với 146 quốc gia đang phát triển trên thế giới, Việt Nam được xếp vào hạng 127. Trong lúc đó, Chỉ số Tự do kinh tế năm 2008 (2008 Index of Economic Freedom) cho thấy Việt Nam đứng vào hạng 135 trên 157 nến kinh tế trên thế giới. Chỉ số nầy căn cứ theo 10 tiêu chuẩn bao gồm các lãnh vực kinh doanh, đầu tư, mậu dịch, tài chính, tiền tệ, lao động công quyền, tham những và quyền sở hữu tài sản. Hai điều trên cho thấy tình trạng phát triển của Việt Nam còn đầy rẩy nhiều nghịch lý và không đi đồng bộ với việc bảo vệ môi trường.

 

Tóm lại, mọi kế hoạch, định hướng, chiến lược đã được Việt Nam đề xướng từ 40 năm qua đã không được thi hành nghiêm chỉnh và đúng đắn, cũng như việc phát triển quốc gia hoàn toàn không đi đôi với việc bảo vệ môi trường.

 

Do đó, hệ quả đương nhiên là tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp tệ hại và cho đến nay, mọi biện pháp cứu chữa hầu như không thể thực hiện được.

 

Và kết luận hiển nhiên là phát triển quốc gia không đi kèm với việc quản lý và kiểm soát môi trường sẽ đưa đất nước đến tình trạng kiệt quệ về tài nguyên và môi trường bị thoái hóa.

 

Phát triển quốc gia không đi kèm với dân chủ hóa và nhân quyền hóa xã hội sẽ đưa đất nước đến kề cận với thảm họa diệt vong.

 

Vì, một khi cánh cửa dân chủ chưa được mở ra, thì tất cả tài nguyên, tài sản quốc gia sẽ tích lũy trong tay của một nhóm thiểu số cầm quyền; do đó, phúc lợi nầy sẽ không được chia sẻ đồng đều và công bằng theo nhu cầu của xã hội.

 

Và đây, cũng là một bế tắc chính yếu cần phải tháo gở của Việt Nam do công cuộc điều hành Đất và Nước không ứng hợp với chiều hướng phát triển bền vững từ 40 năm qua.

 

Môi trường Việt Nam từ không khí, đến đất đai, nguồn nước đã bị ô nhiễm nặng nề; và có thể nói đã đến giới hạn tới hạn (threshold limit), nghĩa là thiên nhiên sẽ không còn khả năng để tự điều tiết, sàng lọc và thanh lọc môi trường được nữa…Do đó:

 

  • Đất đai sẽ bị hoang hoá, khô cằn, hay sự sa mạc hoá ngày càng tăng nhiều hơn.
  • Nguồn không khí dơ bẩn sẽ là một gánh nặng y tế cho Việt Nam một khi phải cưu mang thêm hàng triệu nạn nhân do các bịnh về đường hô hấp .

 

  • Sau cùng, nhất là nguồn nước, trung tâm của mọi sinh hoạt của con người, sẽ là nguồn bịnh tật cho mọi bịnh về đường tiêu hoá và vô số bịnh ung thư qua việc bị nhiễm độc các hóa chất độc hại trong nguồn nước và thực phẩm.

 

 

Thử hỏi, với chừng ấy vấn nạn căn bản kể trên, người Việt tại quốc nội làm sao có đủ khả năng để tự cứu lấy chính mình?

 

Và câu hỏi cho những người cầm quyền hiện tại là, ngoài việc lo củng cố quyền lực và "tích lũy" tài sản cá nhân, có còn lưu tâm đến những vấn nạn môi trường đang xảy ra trên toàn cõi Việt Nam hay không?

 

Mai Thanh Truyết

Viết cho Melbourne 3-2015

_____________________________________________________

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/

 

 T do là Ung dung trong Ràng buc

Hnh phúc là T ti trong ...Đau thương"Tuệ Hải

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-


 

 

 
 
 
 


Tong Pham <muoinhu@yahoo.com>,
tgm <tgm@tx.rr.com>,
vinh tuan <tuanha5287@me.com>,
Dan Nguyen <dannguyen123@yahoo.com>,
Thuan Truong <yenson68@gmail.com>,
"tuyha81@yahoo.com" <tuyha81@yahoo.com>,
DinhMinh Phan <phandinhminhaf@verizon.net>,
tinh vo <v_tnh@yahoo.com>,
Luyen Duong <luyenpd@yahoo.com>,
do thai luu <luuthaizdo@gmail.com>,
Linh Phuong Le <linhphuongpianist@gmail.com>,
Phong Cu <cuhoaphong@sbcglobal.net>,
Andy Triet <andy91101@yahoo.com>,
ngo xuan dang <mayngank20@yahoo.com>,
le huu lieu <sonbinhmy@yahoo.com>,
Tuyet Le <lethihoainiem@yahoo.com>,
Minh toan HUU LE <lhmtoan@gmail.com>,
xuan du <doanthachngoc@yahoo.com>,
"huyqgthe@yahoo.com" <huyqgthe@yahoo.com>,
huyen van le <huyenle42@yahoo.com>,
ANH CONG HUYNH <anhchuynh@yahoo.com>,
CHUONG TUAN NGUYEN <tuanchuong.nguyen@yahoo.com>,
TiengNoi LuongTri <thonvida@yahoo.com>,
Do Thu Nga/VRN <dofamily@aol.com>,
DUONG THUONG TRUC <munau11@hotmail.com>,
Chau Tam <tamchauphan@gmail.com>,
yen pham <pham_ngu_yen@yahoo.com>,
nguyen the giac <giacthenguyen@yahoo.com>,
HOANG THANH NGA <thanhnga4530@yahoo.com>,
Nguyen Minh Triet Andy Nguyen <lntt_2000@yahoo.com>,
HoaiNiem Le <lethihoainiem@gmail.com>,
Tai Dien Le <letaidien@gmail.com>,
Phan Van Song <phanvansong2@gmail.com>,
song chau <chaupha@hotmail.com>,
HUY LE <lephuhuy@yahoo.com>,
Petrus Ky <lpk54-61@quickmind.org>,
Nghi Huynh <Nghi@aapress.com>,
Nghia Nguyen <nghiahiep40@gmail.com>,
"sanhta12345@yahoo.com" <sanhta12345@yahoo.com>,
Xuan Tran <mekongtynan@gmail.com>,
Xuan Canh Tran <xuan1836@yahoo.com>,
xuan dan Tran <txuandan@gmail.com>,
LS719 <lamson719.hsk@gmail.com>,
Thehe Noitiep <d.khanh42@gmail.com>,
Phan Dinh Minh <theheviet@verizon.net>,
Tran Van Thuan <thuanvtran@yahoo.com>,
Nguyen TThuy <thuy531@gmail.com>,
Nguyen Duy Lan/Besancon <LanPhuongFlorida@gmail.com>,
DuVan Trinh <zungon@gmail.com>,
Nguyen Hoang Duyen <duyennguyen98@yahoo.com>,
"tuan (DHSP) Tran Dinh" <trandt2003@yahoo.com>,
Nhut Tran <Mrnhut@sbcglobal.net>,
Tan Loc Le <letanloc_35@yahoo.ca>,
LOC NGUYEN <locba9999@yahoo.com>,
Van Lang Huynh <van.huynhlang@gmail.com>,
Hoang Lan <tngo51@gmail.com>,
Kim Anh Tran <katrann1@yahoo.com>,
LONG DIEN <longdien71@gmail.com>,
Ban Lien Lac Gia Dinh NNHuy <gdnguyenngochuy@yahoo.com>,
Peter Nguyen <petervietnguyen52@yahoo.com>,
nhon huynh <huynhthanhnhon07@gmail.com>,
KimYen NhomNiemVui <kimyennhomniemvui@gmail.com>,
nhom-nghien-cuu-viet-nam <nhom-nghien-cuu-viet-nam@googlegroups.com>,
Alex Tang <alextang@mail.org>,
atrang ho <atrangho@gmail.com>,
Anh Dang <hanhphuc9@gmail.com>,
hanhho nguyen <trehai44hs@yahoo.com>,
toan mai thanh <maithanhtoan539@yahoo.com>,
Nguyen dinh Toan/NVHN <nguoivietquocgia@aol.com>,
Bac Ky Di Cu <backydicu@gmail.com>,
bach hoang <hoangbach1@yahoo.com>,
Truc Nguyen <laolamvuonsd@gmail.com>,
Hanna Nguyen <quehuong5283@gmail.com>,
Vaness Luu <vanessabl@mail.com>,
Anh Tran <nglinhnghi@gmail.com>,
Anh Nam Hoang <mangbut71@yahoo.com>,
Ngu Lang <ngulang156@hotmail.com>,
HoangTu <tvcharlienguyen@yahoo.com>,
Hoa Pham <hoabapham@hotmail.com>,
Van Nguyen <vannguyen620@hotmail.com>,
Huu Nguyen <francois.van.337@gmail.com>,
ThaivanHoa <thaivanhoa05@yahoo.com>,
Anh Bao Tuan <bt.pcm909@gmail.com>,
Huong Truong <sydneyhuong@yahoo.com>,
Thien Tam <saigon5@yahoo.com>,
Quan Tran Hong <hong_quan_1906@yahoo.com.au>,
Hang Ngo <hangngo57@yahoo.com>,
Tuan Nguyen <tttrade@aol.com>,
Loi Dang <dvloi3@yahoo.fr>,
Anh Chanh -mayhong <chanhnhudo11230@yahoo.com>,
Vo Bat Phi <honghai386@gmail.com>,
Anh Ket <nguyenchinh2007@gmail.com>,
Huu Tran <trandaihuu@gmail.com>,
Tram Ho <hotram919@gmail.com>,
Truyet Mai <envirovn@gmail.com>,
Vinh Ton That <ttv2o11@yahoo.fr>,
Huong Truong <hoasen99@gmail.com>,
Di Tran <kh.huyenquang@yahoo.com>,
Anh Dai Phan <daiphannt2@yahoo.com>,
Anh Ly <ngocphuongnam@gmail.com>,
Lam Hoang <roberttran2003@yahoo.com>,
"hungngoc@aol.com" <hungngoc@aol.com>,
Van Nguyen <ngvdongthvn9@yahoo.fr>,
Liem Nguyen <hientainguyenthanhliem@yahoo.com>,
TAI LE <letantai12@gmail.com>,
MyLan Quan <quanmylan1@gmail.com>,
"L. Nguyen" <vietmarketing3@gmail.com>,
Dan Toc Viet <PhoNang@yahoogroups.com>,
Le Cong Ho <lebinh1991@gmail.com>,
kim mai <maioanhk@yahoo.com>,
Mai Pham <maipham88@yahoo.com>,
Khiem Duong <khiemtuduong@gmail.com>,
Nguyen Khac Anh Tam <nguyenkhac_anhtam@yahoo.com>,
Tam Man <tamman_03@yahoo.com>,
Bao Viet NamNBao <vnnb@vietnamdaily.com>,
Truong Son <tonytrang2012@yahoo.com>,
Viet Chau <tonycvdo@comcast.net>,
yenvlink <yenvlink@gmail.com>,
Yen Vu <yvu@byntv.com>,
Lai Quang Nam <laiquangnam@gmail.com>,
Dinh Hung NHU <ndhung@orange.fr>,
NHUTKHUE CHAU <nhutkhuechau@gmail.com>,
nghia huynh <nghia0538@gmail.com>,
kinh tran <kingtran1@sunrise.ch>,
Anhtuan Nguyen <nguyenanhtuan@sbcglobal.net>,
"truongnguyen1930@yahoo.com" <truongnguyen1930@yahoo.com>,
Truong viet Hoang/DV <trahoanu@aol.com>,
Duong Pham <vanpcd@gmail.com>,
FKPJAZZ1963 <fphu@yahoo.com>,
Con Pham-Gia <phamgiacon@yahoo.com>,
Bút Nhóm Goi Ðàn <goidan@yahoo.com>,
"nguyensodong@gmail.com" <nguyensodong@gmail.com>,
Nichole Tuyet <info@fsinterpreter.com>,
Nguyen Van Tran/Phap <vanthi@free.fr>,
Nguyen Van Sam/LPK moi <samnguyen20002002@yahoo.com>,
thanh huong Nguyen <thithanhhuong@gmail.com>,
Huong Nguyen <soctrangxua@gmail.com>,

Truyen101<lacthanh36@yahoo.com>
Chan Khuong <chkhuong@yahoo.com>,
Re On <re.on2013@yahoo.com>,
hiep le <hieple63@hotmail.com>,
tran nghia hiep <hieptr@hotmail.com>,
Hiep Tran Thanh <tranthanhhiep@gmail.com>,
Nguyen Ngoc Quynh <SteveNguyensepa@yahoo.com>,
minh tran <tranvminh77@gmail.com>,
Minh Duc <minhduc9293@yahoo.ca>,
Vong Nguyen <rumthuan3235@gmail.com>,
Ru Huynh <nbinh63@yahoo.com>,
Revue Dinh Huong <revue_dinhhuong@yahoo.com>,
Tan Le <lequoctan421@yahoo.com>,
DNGeorgeNguyen <tanbinhusa@yahoo.com>,
Phung Nang Tran <phungnangtran@gmail.com>,
doan do <doantdo@yahoo.com>,
Doan Trang <doantrang.dtdt@gmail.com>,
Le Que Lam <lequelam@hotmail.com>,
Lequoc <lequoc@videotron.ca>,
Pham Huu Trac <pht@videotron.ca>,
Chu Ba Yen <yenchu36@aol.com>,
Bao Virginia <tuoitrevhn@aol.com>,
Pho Pasreur <thomaspham47@msn.com>,
Dinh Xuan Quan <qdinh2@yahoo.com>,
Yung Krall <yungkrall2012@yahoo.com>,
Tho Nguyen <zoulouvn@yahoo.com>,
Tran Trong Nhan <trn_trongnhan@yahoo.com>,
Xuan Canh Tran <xuanhat@sbcglobal.net>,
Truong Van Canh <canhtruong@sbcglobal.net>,
thuy faucheu <thuy.faucheu@gmail.com>,
Duong Bui <duongbui2004@yahoo.ca>,
Hieu Doan <hieudoanbdq@yahoo.com>,
Hoang Lynh/Paltalk moi hoang <hoanglynh9@yahoo.com>,
Tran Dai/DV <trandai39@earthlink.net>,
Nguyen Quy Dai <quy-dai.nguyen@freenet.de>,
Tich Tran <tranvantich@hotmail.de>,
zizzax5b <zizzax5b@yahoo.com>,
day nguyen <day_15402@yahoo.com>,
Tran B Dang <bdtran21@yahoo.com>,
"Khoi Pham G." <binhminhusa@hotmail.com>,
BS Nguyen Duy Bang <dbang42@yahoo.com>,
cuong trong bui <drctbui@hotmail.com>,
Pham Minh-Tam <minhtam97@gmail.com>,
T X Quang <minhtran52@hotmail.com>,
Van Lan Truong <VanLanTruong@gmail.com>,
Minh Chau Ha <minhchauha29@gmail.com>,
Minh Ngoc <www.minhngocha@gmail.com>,
thuan54@gmail.com

 


_____________________________________________________

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/

 

 T do là Ung dung trong Ràng buc

Hnh phúc là T ti trong ...Đau thương"Tuệ Hải

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-


 

 

 
 
 
 

               

 

 

Radio Dallas 1600 AM

Chương trình Tiếng Nói Da Vàng

 

Kỹ nghệ "Thức ăn nhanh"

 

 

NQ: Trong phần hội luận lần nầy TS MTT sẽ nói về Kỹ nghệ thức ăn nhanh tức fast food. Được biết kỹ nghệ thức ăn nhanh (fast food) đang là một kỹ nghệ phát triển rất mạnh ở Hoa Kỳ. Hàng năm, có thêm trên dưới 10 ngàn tiệm mới được tung ra khắp nơi trên toàn quốc, trong đó khoai nhúng trong dầu là một món thông dụng của kỹ nghệ nầy, chiếm số thương vụ trên 100 tỷ Mỹ kim hàng năm.

Đây là một trong những thức ăn được ưa chuộng tại HK, nhứt là đối với giới trẻ và cuộc sống năng động và vội vã trên đất nước nầy. Xin mời TS bắt đầu.

 

MTT: Đúng như cô NQ vừa trình bày, tuổi trẻn HK thích món ăn nầy vì vừa tiện dụng, không mất thì giờ và tương đối vừa túi tiền cũng như các nhà hàng bán thức ăn nhanh nầy hiện diện khắp nơi trên đường phố. Thức ăn nhanh gồm các món sau đây: khoai nhúng trong dầu, thịt bò hamburger, thịt gà, đôi khi có cá catfish như ở vùng Missouri, Mississipi, sà lách, và các loại nước ngọt v.v…

 

Trước hết, cần nói đến khoai nhúng trong dầu. Khoai nhúng trong dầu có nhiều tên gọi khác nhau như French Fries hay Fries ở Hoa Kỳ, Chips ở Anh Quốc và Liên hiệp Anh. Trong lúc đó chữ Chips ở Bắc Mỹ dùng để chỉ những lát khoai cắt thật mõng, và món nầy ở bên Anh gọi là Crips. Quý vị nếu có đi du lịch qua Anh nhớ cẩn thận khi mua hàng.


Khoai nhúng trong dầu là những que khoai được cắt theo nhiều kích thước khác nhau do đó mang những tên khác nhau tùy theo thương hiệu riêng của từng công ty.

 

NQ: Nghe TS nói về danh xưng của khoai nhúng dầu thật hấp dẫn, xin Ông cho biết qua về lịch sử của món ăn nầy.


 
MTT: Khoai nhúng trong dầu thường được người Việt gọi là khoai chiên để chỉ các loại French Fries. Thực ra khoai chiên nầy đã xuất hiện lần đầu tiên tại Bỉ (Belgium) vào thế kỷ thứ 18, và tên French Fries có từ thế kỷ 19, do động từ "frire" của Pháp dịch qua tiếng Anh là "fry" và có nghĩa là "deep-fat frying". Nhưng tên gọi đúng nhất của món nầy là "pommes de terre fritées" (deep-fried potatoes). Trong lúc đó, chữ "French fried" đúng nghĩa là dùng để chỉ những cách nấu như gà chiên (fried- chicken), hành chiên (fried onion ring) v.v… chứ không hẳn là món khoai chiên.


Khi thưởng thức món nầy lần đầu tiên trong lúc viếng thăm Pháp Quốc, Tổng thống Hoa Kỳ Thomas Jefferson (1801- 1809) có để lại thủ bút ghi lại tên của món khoai chiên là "potatoes deep-fried while raw, in small slices".


Vào ngày 11 tháng 3 năm 2003, Cty nhà hàng Beaufort, North Carolina, nơi cung cấp thức ăn cho các văn phòng của Hạ viện Hoa Kỳ đã đổi tên French Fries thành tên Freedom Fries để phản đối thái độ của chính phủ Pháp phê phán và kết án việc tấn công Iraq của Hoa Kỳ. Mãi cho đến ngày 2 tháng 8, 2006, tên French Fries mới được gọi trở lại. Tuy nhiên, kể từ đó, trong dân gian (Hoa Kỳ) danh từ French ghép trong thức ăn được đổi lại là Freedom như Freedom Bread thay vì bánh mì Pháp, hoặc Freedom kiss (nụ hôn tự do!) thay vì French Kiss.


Theo thống kê vào năm 1960, một người Mỹ trung bình hàng năm ăn 81 cân Anh khoai nhúng dầu làm bằng khoai tươi, và chỉ độ 4 cân Anh, khoai đông lạnh. Nhưng đến năm 2004, họ chỉ còn ăn 49 cân khoai tươi và 34 cân khoai đông lạnh.


NQ: Còn cách làm khoai nhúng dầu như thế nào thưa Ông?

 
MTT: Tùy theo công ty thức ăn nhanh, nguyên liệu khoai được chuẩn bị khác nhau như: Cty Mc Donalds và Burger King dùng khoai đã cắt sẳn, để đông lạnh nhiều ngày; cũng như một số cty nhỏ mới xuất hiện trong vòng 10 năm trở lại dùng nguyên liệu khoai tươi trước khi nhúng vào chảo dầu sôi như cty In-N-Out Burger chẳng hạn.


Sau đó, khoai nhúng dầu được thêm muối, bột bắp, bột tỏi, bột hành, tiêu bột, bột paprika và nhiều mùi khác nhau để sau cùng cho ra một hượng vị đặc biệt cho mỗi thương hiệu. Các phụ gia nầy cũng như cân lượng của chúng trong khi pha trộn là một bí mật cho mỗi công ty. Tùy theo hình dạng của khoai nhúng dầu, chúng có tên khác nhau như: khoai cắt dầy (thick cut), khoai dây giày (shoestring), khoai quắn (curly) v.v…


Tuy các phụ gia dự phần vào việc gây ra hương vị đặc biệt cho từng công ty, nhưng yếu tố dầu xử dụng trong việc nấu khoai là một yếu tố quyết định mang lại hương vị đặc biệt cho khoai. Và cả hai yếu tố trên cũng mang lại nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe của người tiêu dùng, đặc biệt là trẻ em ở lứa tuổi đi học vì đại đa số các thức ăn trưa đều có French Fries hay Chips trong thực đơn của nhà trường.


Trước năm 1990, Cty Mc Donalds dùng hổn hợp dầu gồm 7% dầu từ hột bông vải và 93% dầu trích từ các mô mở của bò (beef tallow); do đó, trong French Fries của Cty nầy chứa rất nhiều chất béo bảo hòa của bò, nhiều hơn cả chất béo trong chính món hamburger bò.


Vì vậy, Mc Donalds bị chỉ trích rất nhiều trên toàn quốc qua cung cách nấu khoai nhúng dầu trên. Nhưng kể từ năm 1990 trở đi, Cty đã chuyển hướng và dùng toàn dầu thực vật.


NQ: Xin ngắt lời TS, các Cty bắt buộc phải chuyển hướng như vậy, làm sao các công ty có thể giữ nguyên hương vị của French fries lúc lúc ban đầu, thưa Ông?

 

 

MTT: Đó là một vấn đề cốt lỏi và bí mật cho từng Cty thưa cô NQ. Nhưng vấn đề nảy sinh từ đây là làm thế nào để giữ được hương vị của khoai giống như trong thời gian dùng dầu mở bò! Do cần phải cố gắng giữ đúng hương vị như đã quảng cáo trước kia là "hương liệu tự nhiên" (natural flavor), Mc Donalds phải thêm một số phụ gia khác nữa để không làm thay đổi mùi vị khi thay thế dầu mở bò.


Chất phụ gia để thêm vào cho mỗi cty là một bí mật, cho nên kỹ nghệ tạo mùi vị và màu khác nhau là một kỹ nghệ có thương vụ cao trong kỹ nghệ thức ăn nhanh. Cty International Flavors & Fragrances (IFF) ở New Jersey là một cty sản xuất hương liệu lớn nhất thế giới. Do tính cách bí mật của thương vụ, cho nên chỉ có cấp lãnh đạo của công ty mới có thể biết được tất cả giai đoạn để tổng hợp một mùi vị đặc biệt cho cty đặt hàng mà thôi.


Cty IFF sản xuất đủ mọi hương liệu cho thực phẩm, mang lại thương vụ cho Hoa Kỳ lên đến 1,4 tỷ Mỹ kim hàng năm, gồm hương liệu cho bánh mì, khoai từ bắp, các loại bánh ăn chơi (cracker), ngũ cốc ăn sáng (cereal), thậm chí những mùi đặc biệt cho thức ăn chó, mèo nữa. IFF còn làm mùi đặc biệt cho cà rem, các loại bánh ngọt cookies, đèn sáp (nến), kem đánh răng, nước súc miệng, các dung dịch dùng cho vệ sinh cơ thể như dầu gội đầu, thuốc giặt, thuốc rữa chén, hóa chất khử mùi (deodorant).

 

Trong kỹ nghệ nước giải khát như nước trà, trái cây, nước có hơi carbonic, sữa đậu nành, bia, các loại rượu cất (liquors) từ ngũ cốc v.v… cũng có sự hiện diện của Cty IFF. Nên nhớ, Cty IFF cũng là tác giả của một số thương hiệu nước hoa nổi tiếng trên thế giới là Estée Lander's Beautiful, Clinique's Happy, Lancôme's Trésor, và Calvin Klein's Eternity.
Trở lại các mùi cho thêm vào trong French Fries, chính những mùi nầy sẽ tạo ra hương vị đặc biệt cho từng thức ăn để có vị ngọt, vị chua, vị đắng, vị mặn, và vị tạo ra mùi tự nhiên của các mô hữu cơ (astringent). Và còn có một mùi đặc biệt nữa là mùi umami do các nghiên cứu gia người Nhật khám phá ra. Mùi nầy cho chúng ta có cảm giác ăn một thức ăn giàu protein và amino acid như nấm, sò, hến, và các loại rong biển.
 
NQ: Nguyên liệu chính của French fries cũng như thức ăn cho bò, hay gà cũng đến từ  bắp, như vậy, muốn giữ hương liệu của một Cty như Mac Donald chẳng hạn, họ có cần phải dùng một loại bắp đặc biệt nào không thưa Ông?

MTT: Việc trồng bắp trên mãnh đất Hoa Kỳ nầy đã từng bị chỉ trích là không theo quy định quản lý môi trường và đây là một sự khai thác không bền vững, nghĩa là việc trồng tỉa đòi hỏi quá nhiều năng lượng so với mức lợi ích của thành phẩm là bắp. Thêm nữa, bắp đã được chuyển giống "gen" pha trộn thêm nhiều hormone tăng trưởng, cùng sử dụng quá nhiều phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật.


TS Jahren đã phân tích Carbon và Nitrogen trong 500 mẫu burger, fries, gà chiên. Bắp dùng để nuôi bò hay gà được ghi dấu đồng vị của carbon nhằm mục đích nhận diện được trong phân tích. Nitrogen trong phân bón và thuốc bảo vệ thực vật cũng được đánh dấu đồng vị như carbon.


Trong vòng hai năm nghiên cứu trên các tiệm Mac Donald's, Burger King, và Wendy ở Los Angeles, San Francisco, Detroit, Denver, Boston, va Baltimore, kết quả thu lượm được là 100% thịt gà và 93% thịt bò đều chứa bắp đã được ghi dấu trong các tế bào, cũng như sự hiện diện của Nitrogen từ phân bón.


Các khám phá trên cho thấy nguy cơ bị nhiễm độc lâu dài do những yếu tố độc hại đến từ việc chăn nuôi và cung cách nấu nướng của thức ăn nhanh.


NQ:
Như đã nói ở phần trên, mùi thức ăn ảnh hưởng nhiều đếu thương hiệu của mỗi Cty, từ đó, khách hàng thích mùi vị nào đặc biệt thì thường xuyên lui tới. Vì vậy việc giữ mùi để cạnh tranh là một vấn đề gây go giữa các Cty với nhau. Đây có phải là một yếu tố quyết định trong việc tranh thương không thưa Ông?

 

MTT: Đúng như vậy thưa Cô. Hệ thống thần kinh khứu giác (olfactive system) của con người bị kích thích khi có một mùi lạ qua hương vị của thức ăn (hay nước hoa, hay mùi hương đặc biệt của mỗi người). Các hương vị đó là do hơi bốc ra sau khi chúng ta cho thức ăn vào miệng, và hương vị nầy dự phần đến 90% trong mùi của thức ăn.


Khi chúng ta ăn uống, mút cà rem, hay nhai kẹo, mùi hương thoát ra từ mỗi động tác. Cấu tạo của các mùi nầy là những chất hữu cơ nhẹ, chúng bay ra từ miệng, lên đến mũi, hay thoát ra từ đốc vọng của miệng (khi ợ ra). Mùi nầy kích thích tế bào biểu bì thần kinh khứu giác có tên là olfactive epithelium, nằm dưới mũi gần mắt chúng ta. Ngay sau đó, óc sẽ tiếp nhận những tín hiệu phức tạp từ lưỡi và mũi; từ đó cho chúng ta nhận thức được có phải là mùi vị mà chúng ta muốn ăn hay không?


Một món ăn được gọi là thích khẩu thường thường được xác định từ những năm đầu trong đời sống của con người. Từ đó, con người có thể xác định được cá tính và cung cách hội nhập vào xã hội khi lớn lên, sau khi tiếp nhận những hương vị khác nhau của thực phẩm ở những giai đoạn khác của đời sống.


Thông thường trẻ con thích ngọt và không chấp nhận các vị đắng. Lớn lên một chút, các em thích thử thức ăn nóng và cay, tùy thuộc vào cha mẹ hay những người cùng ăn trong gia đình. Bộ óc của mỗi người trong chúng ta có những phản ứng hoàn toàn không giống nhau trước cùng một mùi. Mùi thích hợp cho người nầy có thể gây dị ứng cho người khác và ngược lại. Sự cảm nhận về mùi rất phức tạp do nhiều yếu tố tâm  sinh lý và điều kiện bên ngoài. Có những mùi hương làm chúng ta nhớ mãi, nhất là khi đến tuổi trưởng thành.

 

Do đó, trong kỹ nghệ thực phẩm như fast food, mùi hương cố định sẽ giữ khách lại, vì, người trưởng hành, một khi đã trở thành thói quen, họ sẽ khó thay đổi để đi qua các tiệm ăn khác.


Một thí dụ là, khi còn nhỏ, các em được cha mẹ thường cho ăn Happy Meals của Mc Donalds. Điều nầy có nghĩa là (không phải tuyệt đối) khi lớn lên, các em nầy sẽ thường xuyên đi đến Mc Donalds. Trung bình một người Mỹ ăn bốn túi khoai nhúng dầu trong một tuần lễ.


Cũng cần nên nói thêm là kỹ nghệ tạo mùi là một công nghệ sinh hóa cao cấp. Sự tổng hợp và cân lượng có thể được tính đến một phần tỷ của nhiều hóa chất hợp lại. Thí dụ như mùi dâu (strawberry) là mùi tổng hợp của trên 350 hóa chất xuất hiện cùng một lúc qua khứu giác của chúng ta. Do đó, kỹ nghệ nầy cũng cần có những người ngữi mùi đặc biệt gọi là flavorist để thử các mùi vừa tổng hợp ở phòng thí nghiệm xem có giống như mùi "tự nhiên" không. Từ đó mới có những danh xưng như "mũi một triệu" (million –dollar nose) trong việc thử mùi rượu chát.


Tóm lại, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy gà Mc Nuggets của Mc Donalds có mùi bò, cũng giống như sandwich gà của Wendy. Trong lúc đó mùi của ức gà của Burger King lại có mùi khói tự nhiên (natural smoke flavor).

 

NQ: Nói tóm lại, các thức ăn nhanh từ khoai nhúng dầu cho tới thịt bò thịt gà…đền cần có rất nhiều phụ gia. Mà mỗi Cty đều giữ những bí quyết bí mật đó thì làm sao các cơ quan y tế có thể kiểm soát được. Và nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe của tất cả các hóa chất phụ gia thêm vào trong thức ăn rất lớn. Chúng ta phải làm gì thưa Ông?

 

MTT: Như đã nói ở phần trên, việc chuẩn bị và nấu nướng những thức ăn trong các nhà hàng ăn nhanh hoàn toàn khác hẳn với cung cách nấu nướng của một nhà hàng thông thường. Nguyên liệu nấu nướng có thể là những nguyên liệu có thể đã được trử trong phòng lạnh từ nhiều tháng trước đó. Việc pha chế đòi hỏi phải có thêm các phụ gia hay hương liệu phức tạp. Do đó, dù muốn dù không, một khi tiêu thụ những thức ăn nầy thường xuyên trong một thời gian dài, sức khỏe của người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng trong một thời gian dài sau đó.


Đối với khoai chiên, có chứa nhiều chất béo bảo hòa dưới dạng "trans" sẽ làm tăng nguy cơ của các bịnh về tim mạch nhiều lần hơn so với những người ít ăn fast food. Bác sĩ Walter Willert, Đại học Harward đã ước lượng hiện tượng ăn thức ăn fast food là nguyên nhân của trên 30 ngàn trẻ em chết thiếu tháng (premature death) hàng năm.


Dĩ nhiên, một số thức ăn chơi khác cũng chứa chất béo bảo hòa như khoai lát mõng, các loại bánh nướng (cookies), nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu cùng đưa đến một kết luận đồng thuận là khoai tây nhúng dầu đã chuyển tải lượng chất béo bảo hòa vào cơ thể nhiều nhất so với các thức ăn khác.


Vào cuối tháng sáu, 2002, Cơ quan Y tế Thế giới (WHO) đã triệu tập một phiên họp khẩn cấp để xem lại mức ảnh hưởng lên sức khỏe của những loại thức ăn nhanh như khoai tây nhúng dầu, khoai lát mõng, và một số thức ăn nhúng dầu hay nướng. Hai thức ăn đầu tiên là hai món ăn căn bản trong thực đơn của các em học sinh tiểu học. Theo các nhà dinh dưỡng, thức ăn trên cung cấp rất nhiều chất béo nhưng không tạo ra năng lượng cho cơ thể (calories).


Dường như ai cũng thông hiểu những điều kể trên, nhưng câu chuyện ăn uống cũng giống như "câu chuyện thường ngày ở huyện", nghĩa là, biết để mà biết, nhưng vẫn tiếp tục ăn và cho con cái ăn như thường lệ vì đở mất thì giờ nấu nướng. Trong các học khu trường học chẳng hạn, nhà trường vẫn tiếp tục để nhà thầu cung cấp thức ăn chẳng những không bổ dưỡng mà còn độc hại cho trẻ em.


Cũng như hầu như mọi người đều biết, dầu trong khi nấu sôi, một số phân tử dầu đã biến thể và chuyển hóa thành hóa chất acrylamide, một hóa chất đã được EPA chứng minh là nguyên nhân gây nguy hại cho chuổi DNA, ảnh hưởng lên sự sinh sản (có thể tạo ra dị tật bẩm sinh) và nguy cơ gây ung thư. Chất nầy hoàn toàn bị cấm hiện diện trong nước uống, nhưng Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) vẫn không đưa ra giới hạn nồng độ của hóa chất trên trong thực phẩm. Theo nhiều kết quả nghiên cứu, acrylamide hiện diện trong khoai chiên có hàm lượng cao gấp 500 lần hơn định mức cho phép của hóa chất nầy có trong nước uống.


Theo thống kê, 30% trên tổng số bịnh ung thư là kết quả của thói quen ăn uống hàng ngày. Có thể acrylamide là tác nhân chính của những chứng bịnh ung thư nầy. Cũng tại hội nghị khẩn cấp của LHQ vừa nêu trên, các nhà nghiên cứu của phái đoàn Thụy Điển, Na Uy, Anh, Đức, và Hoa Kỳ đều đưa ra những nhận xét tương tự. Hội đồng cũng khuyến cáo rằng các nhà khoa học cần nghiên cứu thêm về nguy cơ của hóa chất acrylamide, một chuyển hóa chất trong dầu nấu sôi, cũng như nghiên cứu thâm sâu và định lượng mầm móng ung thư của hóa chất đó.


Đồng thời, Hội đồng WHO cũng khuyến cáo các nhà sản xuất thức ăn nhanh, đặc biệt là các thực phẩm được chế biến từ phương pháp nhúng trong dầu sôi cần phải cải tổ quy trình sản xuất để hạn chế sự hiện diện của acrylamide trong thức ăn.

 

NQ: Vì thì giờ có hạn, xin TS cho thính giả của chương trình TNDV về kết luận của câu chuyện Thức ăn nhanh thật lý thú nầy.

 
MTT: Qua những thông tin vừa kể trên, hy vọng từ đó, mỗi người trong chúng ta tự rút ra được kết luận trong việc ăn uống cho chính mình và những người thân trong gia đình, ngõ hầu có được một cơ thể không vướng bận những bịnh 3 cao thường xảy ra cho tuổi già như cholesterol cao, áp huyết cao, lượng đường trong máu cao. Những bịnh đó có thể đưa đến những biến chứng làm cho chúng ta dở sống dở chết trong những ngày cuối của cuộc đời, và nhất là không làm phiền con cháu trong thời gian còn lại trên cõi trần nầy.

 

 


_____________________________________________________

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/

 

 T do là Ung dung trong Ràng buc

Hnh phúc là T ti trong ...Đau thương"Tuệ Hải

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-


 

 

 
 
 
 

Radio Dallas 1600AM

Chương trình Tiếng Nói Da Vàng

 

Hóa chất trong xì dầu

 

NQ: Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng môi trường ô nhiễm trầm trọng. Từ không khí, đất đai và trầm tích, nguồn nước mặt và nước ngầm, cho đến nguồn thức ăn, nhu cầu cần thiết hàng ngày của người dân cũng đang là một thảm nạn cho mọi người. Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm, rau cải, "đồ hàng bông", và trái cây là một vấn nạn lớn đang xảy ra ở khắp nơi trên toàn cõi đất nước là một hiện thực. Theo báo cáo của WHO, có 35% số nạn nhân trên thế giới mắc bịnh ung thư liên quan đến yếu tố thực phẩm và cung cách ăn uống thường ngày.

Mặc dù có nhiều chính sách an toàn thực phẩm do Việt Nam đề xướng như "Dự thảo số 5: Kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm Vệ sinh An toàn Thực phẩm đến năm 2010" rồi đến năm 2015…nhưng tình trạng ngày càng trầm trọng hơn lên. Đặc biệt trong vài ba năm trở lại, tại VN, các bịnh ung thư về đường tiêu hóa như ung thư ruột già (trực tràng) gia tăng một cách rõ rệt, nằm trong nhóm 5 bịnh ung thư cao nhứt nước. Theo thống kê của Cơ quan CDC Hoa Kỳ công bố vào tháng 6/2013 là: bịnh ung thư ở VN hiện hay chiếm 25% trong tất cả các trường hợp tử vong năm 2012, cao nhứt trong 10 bịnh gây chết người hàng năm như tai biến mạch máu não (20%), bịnh liên quan về tim mạch (6%), kiết lỵ (6%) v.v…

Như vậy, tình trạnh thực phẩm ở VN có vấn đế phải không thưa TS?

MTT: Thưa Cô NQ, thưa Quý thính giả của Chương trình TNDV, sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm tiêu dùng của người dân ở VN quả thật đã đến độ nghiêm trọng và đã diễn ra từ hàng chục năm nay rồi. Có 2 nguyên nhân chính cho tình trạng nầy: nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do môi trường chung bị ô nhiễm, do đó ảnh hưởng đến cây trồng và súc vật. Và nguyên nhân chủ quan là do con người, trong quá trình sản xuất sản phẩm đã thêm hóa chất vào trong thực phẩm với trọng tâm mang đến lợi nhuận cao nhất mà không lưu tâm đến những di hại cho sức khỏe của người tiêu dùng.

Trên chương trình nầy, kể từ hôm nay chúng tôi sẽ khai triển những vấn đề trong thực phẩm tiêu dùng ở VN và có thể đang được tiêu dùng tại hải ngoại.

 Hôm nay, chúng ta sẽ nói về vấn đề hóa chất trong xì dầu.

NQ: Xin mời TS bắt đầu.

 

MTT: Trong quy trình sản xuất xì dầu, phương pháp thủy phân bằng acid chlorhydric (HCl) trên các loại bánh dầu thực vật như đậu nành, đậu xanh, hay trong các mô mỡ động vật v.v... cho ra phế phẩm  hóa chất có tên viết tắt là 3-MCPD, hay tên hóa học đầy đủ là 3-monochloropropane-1,2-diol, và một số hóa chất tương tự thuộc nhóm chloropropanol.

 

Còn phương pháp chế tạo xì dầu qua công nghệ lên men tự nhiên thì không tạo ra các phế phẩm trên. Ngay sau khi giai đoạn chế biến xì dầu xong, hàm lượng của các hóa chất trên có thể tăng lên trong giai đoạn vô chai, dự trữ, và ngay cả trong khi nấu nướng, nếu hóa chất không được khử đúng mức ngay từ lúc ban đầu.

Hiện tại, hầu hết các công ty sản xuất xì dầu ở Việt Nam áp dụng phương pháp thủy phân bằng acid do đó hàm lượng 3-MCPD cao là điều không thể tránh khỏi. Trong lúc đó, ở các quốc gia Tây phương, ngay cả Nhật Bản, phương pháp lên men trong việc chế biến xì dầu chiếm từ 86 đến 90% trên tổng lượng xì dầu sản xuất.

NQ: Như vậy ảnh hưởng và mức độc hại của hóa chất 3-MCPD lên con người như thế nào, thưa Ông?

MTT: Nói về ảnh hưởng của 3-MCPD lên con người: Tương tự như các hợp chất hữu cơ chứa chlor khác, 3-MCPD khi đi vào cơ thể qua đường thực phẩm sẽ tích tụ trong các mô mỡ và gan. Qua thời gian, một khi liều lượng của hóa chất trên cao hơn mức an toàn của cơ thể có thể chấp nhận được, nguy cơ bịnh ung thư sẽ xảy ra.

Theo Ủy ban Khoa học Thực phẩm Âu châu, 3-MCPD được xếp vào hạng hóa chất có nguy cơ gây ung thư và di truyền (genotoxic carcinogen). Sự hiện diện của hóa chất trong cơ thể phải được hạn chế tối đa, và định mức chấp nhận hàng ngày trong cơ thể (Tolerable Daily Intake – TDI) là 2ug/Kg/cơ thể.

Theo tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế VN, ban hành ngày 23/5/2005 sau ba năm nghiên cứu là: hàm lượng của 3-MCPD có trong xì dầu không thể vượt quá 1 mg/Kg áp dụng cho xuất cảng, và giao động từ 3- 5 mg/Kg cho việc tiêu dùng trong nội địa (tức cao hơn mức cho phép 500 lần). Trong lúc đó tiêu chuẩn của LH Âu Châu là 0,02 mg/Kg, của Anh Quốc 0,2 mg/Kg, Bỉ 0,5 mg/Kg. Qua các tiêu chuẩn trên, quả thật chúng tôi không thể hiểu tại sao BYT Việt Nam lại có hai quy định riêng rẽ cho xì dầu xuất cảng và xì dầu nội địa. Chẳng lý nào người dân VN có sức đề kháng với hóa chất trên cao hơn người ngoại quốc?

NQ: Nếu nói như vậy, định mức tiêu chuẩn của VN cho 3-MCPD cao hơn tất cả các quốc quốc gia trên thế giới, làm sao lại có sự hiện diện của xì dầu VN trên thị trường thế giới, thưa Ông?

 

MTT: Nói về tình trạng xuất cảng xì dầu thì các sản phẩm xì dầu dùng để xuất cảng do nhiều công ty trong nước sản xuất. Quan trọng nhất là Cty Liên doanh Chế biến Thực phẩm Việt Tiến (VITEC Food) xuất cảng xì dầu qua nhản hiệu Chin Su. Ngoài ra còn có các Cty như Nam Dương, Mêkong, Nestlé Việt Nam xuất cảng qua Âu châu, Mỹ châu, Úc và Á châu.

Năm 2006, Anh Quốc từ chối một lô hàng của Việt Nam vì hàm lượng 3-MCPD cao hơn tiêu chuẩn. Và vào tháng 7, 2006, Bỉ cũng đã trả về các lô hàng Chin Su vì hàm lượng hóa chất trên lên đến 86 mg/Kg. Và sự việc bị trả về tiếp diễn dài dài. Nhưng tại Hoa Kỳ chẳng hạn, sở dĩ xì dầu VN lọt vào thị trường là vì có một "chỗ hở" trong việc kiểm soát hàng nhập cảng vào quốc gia nầy. Vì không đủ nhân sự và thời gian cho nên HK chỉ có đủ khả năng kiểm soát 1% trong tổng số các lô hàng (container) nhập cảng vào các hải cảng HK. Và như chúng ta đã thấy, một khi một lô hàng nào nào bị kiểm soát, có thể nói tất cả sản phẩm chứa trong lô hàng nầy đều bị vi phạm từ vệ sinh cho đến việc dung chứa hóa chất độc hại, vi khuẩn v.v… cũng như thương hiệu, địa chỉ đều được công bố cho dân chúng trên web epa/oasis/ , thưa Cô.

NQ: Nếu quả đúng như vậy, làm sao các nhà sản xuất ở VN có thể giải thích hoặc bào chữa cho thương hiệu của mình…để có thể xuất cảng tiếp tục, thưa Ông?

MTT: Để bào chữa cho việc xì dầu bị trả về, dĩ nhiên BGĐ của Cty phải chạy tội bằng cách phủ nhận qua phát biểu của Ông Phạm Hồng Sơn, TGĐ, như sau:"Sản phẩm của Cty VITEC Food xuất cảng từ năm 2003 sang các nước Đông Âu và EU, nhưng chưa bao giờ xuất cảng sang Bỉ, nên chai nước tương phát hiện ở Bỉ có hàm lượng 3-MCPD lên tới 86 mg/Kg có nhiều khả năng là giả". Xin nhường lời bình luận về phát biểu trên của Cty VITEC cho người đọc.

Tuy nhiên, với tính cách thông tin, qua kiểm tra của Trung tâm Đo lường Chất lượng 3 TpHCM thì có độ 50% số lần mẫu của xì dầu Chin Su không đạt tiêu chuẩn. Cũng như theo báo cáo của Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm thuộc Sở KHCN-MT Tp Sài Gòn, qua 42 mẫu nước tương thì toàn bộ 42 mẫu đều có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều khi lên đến 7 – 8 ngàn lần nghĩa là 7000 – 8000 mg/Kg.

Tuy tiêu chuẩn do BYT đưa ra là 1mg/Kg nhưng vẫn chưa có biện pháp cũng như quy định nào cụ thể về việc kiểm tra phẩm chất sản phẩm của các nhà sản xuất. Cũng cần nên biết là toàn quốc chỉ có 9 phòng thí nghiệm có khả năng phân tích hoá chất 3-MCPD, và chi phí phân tích là 800 ngàn ĐồngVN/mẫu.

NQ: Quả thật như vậy, thì việc sản xuất xì dâu giả cũng có thể xảy ra ở VN phải không Ông?

MTT: Đúng như vậy thưa Cô. Ở VN bất cứ sản phẩm nào cũng có thể là giả hết thưa cô, ngay cả "liêm sĩ" còn bị giả mạo nữa là…

Nói về Xi dầu giả hiệu, ngoài 2 phương pháp thủy phân và lên men là chính trong quy trình sản xuất xì dầu. Dĩ nhiên là ở VN, có rất nhiều thể loại mặt hàng nhái, hàng giả hiện diện khắp nơi từ hàng tiêu dùng cho đến thực phẩm. Do đó việc sản xuất xì dầu cũng không tránh khỏi tình trạng nầy. Nói ra thì thấy kinh tởm, nhưng sau đây là một sự thật đang xảy ra ở Việt Nam. Hiện có sự xuất hiện của nhiều nhà thu gom tất cả xương gà, xương heo, bò ở các tiệm ăn, thậm chí ở những đống rác, để mang về nấu trong acid, và được trung hòa lại bằng sút caustic. Sản phẩm được vô bao nylon hay chai lọ dưới nhản hiệu "nước cốt để làm xì dầu" và được bày bán khắp nơi nhất là ở chợ Kim Biên, Chợ Lớn. Nơi đây còn bày bán các nguyên vật liệu để làm nước tương và nước mắm qua công thức chế biến là: nước + muối + màu + mùi + chất phụ gia để bảo quản xì dầu sản xuất; đôi khi còn cho thêm phân bón urea để làm tăng độ đạm trong nước chấm hay xì dầu nữa.

NQ: Phải chăng tình trạng xì dầu giả hay chế biến cầu thả…cũng như những mặt hàng thực phẩm giả khác lan tràn ở VN hiện tại, không có thuốc chữa phải không ông? Và Ông có đề nghị nào không về tình trạng nầy.

MTT: Có thể nói là hết thuốc chữa thưa Cô, trừ phi, những người làm quản lý thực phẩm ở VN có lương tâm và thành tâm cải sửa một vấn đề cốt lõi ảnh hưởng lên tương lai của cả một dân tộc.

Đứng trước tình trạng sản xuất xì dầu ở Việt Nam, chúng tôi vài đề nghị để giải quyết vấn đề sản xuất bừa bãi rất nguy hiểm cho sức khỏe của người tiêu dùng sau đâu:

-       Trước hết, cần phải xem lại cung cách quản lý của Việt Nam đối với công nghệ sản xuất xì dầu. Việt Nam đã thành công trong quản lý chính trị, ổn định được trật tự xã hội về an ninh, không lý nào lại thất bại trong việc kiểm soát môi trường;

-       Sau nữa, chỉ còn có cung cách làm ăn thật thà, theo đúng quy trình kỹ thuật thì việc trử khữ hay hạn chế sự hiện diện của 3-MCPD trong xì dầu có thể được kiểm soát dễ dàng. Ở các quốc gia tiên tiến, việc chấm dứt quá trình sinh sản 3-MCPD trong xì dầu bằng nhiệt độ cao và tăng độ pH thích hợp sau khi thủy phân;

 

Nguyên nhân của sự hiện diện của 3-MCPD tùy thuộc vào các yếu tố sau: nguyên vật liệu làm xì dầu, điều kiện lưu trử nguyên liệu; việc sử dụng nguồn nước rữa chứa chlor; và những điều kiện bảo quản trườc khi tung ra thị trường như nhiệt độ, độ ẩm. Hiện nay, một số nhà sản xuất ở Tây phương đang dùng acid phosphoric trong giai đoạn thủy phân, thay thế acid chlorhydric. Phương pháp nầy có khả năng loại hẳn sự hiện diện của 3-MCPD trong xì dầu.

Hai điều trên sẽ được thực hiện dễ dàng nếu những nhà quản lý đất nước hiện tại có quyết tâm. Nhưng thiết nghĩ, với thái độ vô cảm, đói quyền lực, và quyền lợi của tất cả những người nắm quyền lực hiện tại, CSVN chắc chắn sẽ không bao giờ cải sửa tình trạng trên. Và vấn đề xì dầu chỉ là một trong trăm ngàn thực phẩm khác hiện đang lưu hành trong nước và được tungra tận hải ngoại.

Biết được căn nguyên và nguồn gốc của việc làm hàng giả, hàng nhái là dùng hóa chất nhập cảng từ TC  bày bán ở chợ Kim Biên. Nhưng Việt Nam vẫn để ngôi chợ nầy tồn tại cho đến hôm nay. Phải chăng đây cũng là một hành động tiếp tay với TC để tiêu diệt sức đề kháng của tuổi trẻ Việt Nam tương lai. Đó đúng là một hành động của Thái Thú Tàu biết nói tiếng Việt.

Mong bà con ở hải ngoại cần cảnh giác hơn nữa trong việc mua sắm thực phẩm và hàng hóa sản xuất từ Việt Nam và TC.

Xin chào thính giả của Chương trình Tiếng Nói Da Vàng và xin hẹn những lần tới chúng tôi sẽ bàn về vấn đề đậu nành va tàu hủ.

 


_____________________________________________________

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/

 

 T do là Ung dung trong Ràng buc

Hnh phúc là T ti trong ...Đau thương"Tuệ Hải

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-


 

 

 
 
 
 

Vietnam Film Club hân hạnh gởi đến Quý Vị 
 
Video trên Youtube "Thảm Họa Bắc Thuộc - Phần 1" vừa hoàn tất sau gần hai năm thực hiện:
 
 
Bộ phim được sự đóng góp của 26 nhân vật, trong và ngoài nước, người Việt Nam và người ngoại quốc. 
 
Tất cả họ cùng gởi đi một thông điệp khẩn thiết về Thảm Họa Bắc Thuộc đang xảy ra từng giờ trên đất Việt.


_____________________________________________________

Mai Thanh Truyết

http://maithanhtruyet.blogspot.com/

 

 T do là Ung dung trong Ràng buc

Hnh phúc là T ti trong ...Đau thương"Tuệ Hải

 "Every Generation needs a New Revolution". - Thomas Jefferson-


 

 

 
 
 
 
//////////////////////////////////////////////////