Thư cuối năm

Thư gởi người em gái Việt tại Hoa Kỳ

 

Em gái Việt thân mến,

 

Hàng năm mỗi lần gió Đông về gợi nhớ lại những ngày của tháng chạp, tháng chuẩn bị cho cái Tết cổ truyền Việt Nam mà dư luận ở Việt Nam (có thể qua gợi ý của VC) đang cổ súy phong trào hủy bỏ những ngày truyền thống thiêng liêng nầy, tôi muốn viết cho em và về em, một người em gái Việt mà tôi gặp đầu tiên trên bước đường dong ruỗi nơi quê người.

Em thân mến,

Tôi đã gặp em qua sự tình cờ, trong một buổi nói chuyện do một tổ chức nghiên cứu y khoa Việt Mỹ gần đây. Em đã cùng chồng là một bác sĩ tham dự vào câu chuyện bauxite Việt Nam, câu chuyện thường không mấy hứng thú và hấp dẫn đối với những người phụ nữ thuộc "giai cấp" của em. Tôi đã quan sát em, thoáng nhìn ánh mắt và cung cách em theo dõi câu chuyện khô khan của tôi. Tôi đã cùng chia xẻ chai bia với chồng em trong buổi nói chuyện.

Và từ đó, tôi và vợ chồng em có thêm nhiều dịp để trao đổi với nhau cùng các bạn bè khác về câu chuyện nước non. Đây quả thật là một sự tình cờ ngẩu nhiên và lý thú của tôi. Ngẩu nhiên vì em là người tôi gặp có thể nói lần đầu tiên trong những ngày tháng đi đó đây suốt 20 năm qua. Lý thú là vì sau những lần gặp sau đó tại nhà em cùng bạn bè, tôi đã thấy được ánh mắt đầy tự tin và tích cực qua những phát biểu đóng góp của em về câu chuyện Việt Nam. Em đã đóng góp trong tinh thần hết sức xây dựng và hòa nhã nhưng không có nghĩa là không quyết liệt trong luận cứ của mình. Những ý kiến phản biện của em đối với bạn bè của chồng cũng như việc không đồng ý với lý tưởng và con đường của chồng đang đi làm cho tôi suy nghĩ nhiều.

Chính vì thế mới có lá thư gởi cho những người em gái Việt ở những ngày cuối đông nầy trên đất khách.

Em biết không, trong cuộc sống vật chất nơi quê người, đối với giai cấp được ưu đãi như gia đình em, nhiều chị em Việt sống trong điều kiện khó đi ra ngoài cái khung vô hình, đó là chiều hướng cá nhân chũ nghĩa, hưởng thụ thoãi mái do nguồn tài chính dồi dào do chồng kiếm được như đi shopping, nói chuyện gossip với các bạn gái khác có cùng điều kiện kinh tế giống nhau.

Nhưng trái lại, tôi thấy trong em có điều khác lạ. Em không đi con đường trên mà lại có nhiều suy nghĩ đột phá trong vấn đề nước non. Em không có cái "kịch cỡm" như nhiều  người vợ của "giai cấp bác sĩ" (cũng như tôi cũng không thấy những nét hưởng thụ nơi chồng em!)  Tôi không biết tôi có chủ quan hay không, nhưng tôi tin rằng không vì tôi đã trao đổi với em hơn một lần về thái độ và hành động của những người con Việt đối với đất nước nơi hải ngoại.

Em thân mến,

Trong Phật giáo, Đức Phật đã vạch rõ là có tới 84 ngàn pháp môn để tu tập, nghĩa là chúng ta cũng có hàng ngàn hướng đi để cuối cùng hy vọng đạt đến một mục tiêu chung cuối cùng là mang lại tự do, nhân quyền, và một số phúc lợi căn bản cho bà con mình còn đang sống cùng khổ ở Việt Nam. Đó là tiền đề và kết luận duy nhứt của những người con Việt tha hương còn đoái hoài đến quê cha đất tổ.

Dĩ nhiên trên bước đường đi trên, có những suy nghĩ khác nhau đôi khi trái nghịch nhau giữa các cá nhân, giữa các hội đoàn hay đảng phái. Nhưng điều đó không có nghĩa là phải triệt hạ nhau, tiêu diệt lẫn nhau. Dù muốn dù không, chúng ta phải trân trọng tất cả những người còn có tấm lòng Việt Nam, cưu mang một hoài bão đem lại bình an và hạnh phúc cho con dân Việt.

Dù chủ trương như thế nào đi nữa, tấm lòng sắt son với đất nước của những người dấn thân ở hải ngoại cũng đủ để cho chúng ta trân trọng cho dù hướng đi có bị vấp phải sai lầm, cho dù hành động có tạo ra vài đáng tiếc.

Chúng ta sống trong thời đại toàn cầu hóa, trong một thế giới đa cực, chúng ta không còn dựa theo một chủ thuyết tư bản hay chủ nghĩa xã hội để làm nền cho sự phát triển đất nước. Ngày hôm nay chúng ta không còn thì giờ để chiêm nghiệm và "lập thuyết" nữa.

Thế kỷ 21 hôm nay cho chúng ta thấy một thế giới MỞ, mở cho mỗi cá nhân và mở cho tập thể thậm chí cũng mở cho những người quản lý đất nước. Thế giới ngày hôm nay không còn chỗ đứng cho chủ nghĩa độc tôn, độc đảng. Quan niệm lãnh tụ phải được thay thế bằng cung cách làm việc tập thể (team work). Kinh nghiệm Việt Nam cho chúng ta thấy chính sách quản lý của 14 Ủy viên Bộ Chính trị Việt Nam đã đưa đất nước vào chỗ bế tắt và nghèo đói.

Em thân mến,

Câu chuyện Việt Nam vẫn là mối ưu tư hàng đầu của mỗi người trong chúng ta. Nó chiếm lĩnh trọn vẹn quỹ thời gian của chúng ta, trong những lúc ăn uống, lúc làm việc kiếm cơm, ngay cả những lúc trà dư tửu hậu nữa. Tại sao em biết không? Vì đó miền đất tổ của cha ông ngàn đời để lại. Vì đó là nơi trên 85 triệu bà con mình còn quằn hoại đau khổ trước gọng kềm của chế độ. Chúng ta không thể vui trong hoàn cảnh như thế. Chúng ta không thể quên dù là trong giây phút tiếng kêu thương tuyệt vọng của những người cùng khổ trên quê hương.

Tôi có "cải lương" khi trang trải những suy nghĩ trên với em hay không, hở người em gái Việt trên đất Mỹ? Tôi hy vọng là không; vì trong một sát na nào đó, tôi đã thấy ánh mắt chú tâm của em khi nghe tôi nói về chuyện Việt Nam.

Đối với tôi, người chỉ nói từ tấm lòng, không biết và không bao giờ có tham vọng "lập thuyết", giải quyết câu chuyện Việt Nam chỉ là cố gắng suy nghĩ về những cung cách  ngõ hầu mang lại trong tương lai những phúc lợi về y tế tối thiểu cho bà con Việt, cải thiện hệ thống giáo dục đã bị ô nhiễm và hủy hoại sau thời gian dài chịu sự áp đặt của chế độ, cũng như giải quyết những vấn nạn môi trường mà chế độ đã phát triển quốc gia trong chiều hướng hủy diệt môi trường thay vì bảo vệ.

Đảng và Nhà Nước Việt Nam hiện tại không giải quyết được những vấn đề dân sinh của người dân, thậm chí còn làm cho vấn đề ngày càng trầm trọng thêm lên. Nay đã phải đến lúc chính người dân trong nước phải trang bị những thông tin, những hiểu biết để tự cứu lấy chính mình trong cuộc sống hàng ngày đối mặt với nguy cơ ô nhiễm nguồn nước, không khí, và trong đất, nguy cơ trước trong thực phẩm và nhứt là nguy cơ trước những vi phạm quyền của con người đã ghi rõ trong Bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên Hiệp Quốc mà chế độ hiện hành đã phê chuẩn.  

Muốn thực hiện những suy nghĩ tích cực trên, và trong điều kiện hạn hẹp của một người con Việt sống xa quê hương, tôi thấy những gì cần làm ngày hôm nay là chuyển tải những thông tin khoa học, những biến chuyển thực sự đang xảy ra trên đất nước mà người dân quốc nội không hề biết qua chính sách thông tin một chiều của chế độ. Những tin tức cập nhựt nhứt về nguy cơ Hán hóa, về nguy cơ diệt chủng của Trung Cộng dù ít dù nhiều cũng có thể làm động tâm bà con.

Và em có biết không, những khúc nhạc trên đã được tấu lên một cách bền bĩ suốt 20 năm qua, và tôi nghĩ cũng đã khơi dậy một phần nào lòng tự ái dân tộc nhứt là đối với tuổi trẻ Việt Nam.

Em thấy không, tuổi trẻ Việt Nam đã vượt qua sự sợ hãi do chế độ đã cấy sinh tử phù vào lòng dân tộc từ những ngày đầu tiên dày xéo miền Nam thân yêu của chúng ta. Nhưng hôm nay, mọi sự đã xoay ngược 180 độ. Chính những người cộng sản Việt đã bị sinh tử phù chính họ xâm nhập vào não trạng. Càng đàn áp, càng trấn lột người dân, càng phát biểu những lời đanh thép, cao ngạo, chính là lúc người cộng sản …đang sợ.

Họ sợ người dân, họ sợ tuổi trẻ và họ sợ với chính những đảng viên đang cùng chung một việc là áp dụng chuyên chính vô sản với dân. Sự đoàn kết chung quanh đảng dưới lá cờ chủ nghĩa Mác Lê chỉ còn là những tiếng vọng từ đáy vực, một chuẩn bị cho hiện tượng Big Bang của đảng cộng sản Việt Nam trong những ngày sắp tới mà thôi.

Em thân mến,

Sự hiện diện của lá thư nầy là do những lần khám phá ra tình tự quê hương nơi em. Cho tôi một lời cám ơn em. Những suy nghĩ của tôi trên đây cũng là những lời tự nhắc nhở lấy chính mình. Tôi không lạc quan mà cũng không bi quan về tương lai của đất nước. Trong bao lần nói chuyện trước bè bạn hay công chúng, tôi chỉ muốn nhấn mạnh một điều là sống trọn vẹn với niềm tin của mình cũng như san sẻ niềm tin trên với bà con, những người con Việt xa quê hương.

Và từ niềm tin đó, chúng ta không tuyệt vọng cho tương lai của dân tộc.

Xin hẹn gặp lại em một ngày đẹp nắng nào đó không xa trên quê hương mình.

Phổ Lập

Một ngày cuối đông Kỷ Sửu-2010

 

 

 

  

 

 

 

 

Người Việt Phóng sự

Hai tác giả, hai cuốn sách khác biệt, cùng một buổi ra mắt
Tuesday, January 05, 2010 Bookmark and Share
medium_DP-100104-RaMatSach  1.jpg

medium_DP-100105-RaMatSach 2.jpg




Hình trên: Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết rất vui khi ra mắt cuốn "Từ Bauxite đến Uranium" để báo nguy hiểm họa mất nước cho cộng đồng người Việt cùng quan tâm.

Hình dưới: Ông Hà Huyền Thanh trong ban tổ chức đang trả lời phóng viên Nguyễn Viết Hưng về buổi ra mắt sách mà "Tổng Hội Võ Thuật Việt Nam" thế giới hỗ trợ. Trong hình từ trái qua là nhà văn Chu Tất Tiến, nhà văn Quyên Di, phóng viên Nguyễn Viết Hưng, ông Hà Huyền Thanh, một thân hữu và nhà văn Trần Phong Vũ.



Nguyên Huy/Người Việt

Hai cuốn sách "Từ Bauxite đến Uranium" và "Kim Salem" thuộc hai lãnh vực khác nhau, một về khoa học xã hội và một về văn chương nghệ thuật, đã được "Tổng Hội Võ Thuật Việt Nam Thế Giới" bảo trợ tổ chức ra mắt cùng trong một buổi vào chiều ngày Chủ Nhật 3 Tháng Giêng vừa qua tại phòng sinh hoạt của nhật báo Việt Báo.

Khoảng gần một trăm độc giả và thân hữu của các tác giả đã đến tham dự.

Nói về sự "có vẻ nghịch lý" này, nhà văn Quyên Di, người điều hợp chương trình cho rằng: "Ðó là do sự liên hệ mật thiết giữa Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, một trong ba tác giả cuốn 'Từ Bauxite đến Uranium' và nhà văn Chu Tất Tiến, tác giả cuốn 'Kim Salem'. Sự liên hệ ấy là cùng sinh hoạt trong Tổng Hội Võ Thuật Việt Nam với tư cách thành viên và họ cũng là những chiến sĩ quốc gia. Trong cả hai tác phẩm được ra mắt hôm nay các tác giả, trên hai lãnh vực khác nhau lại cùng đề cập đến vấn đề xã hội ở Việt Nam".

Cuốn "Từ Bauxite đến Uranium" là tập hợp những bài viết về vấn đề này của hai tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Phan Văn Song và Giáo Sư Trần Minh Xuân. Tựa đề của cuốn sách này còn được ghi rõ thêm là "Tiến trình đô hộ Việt Nam của Trung Cộng". Cuốn "Kim Salem" là một truyện giang hồ, băng đảng thời VNCH mà dư luận cho rằng tác giả đã viết về cuộc đời của mình khi còn trẻ.

Buổi ra mắt hai cuốn sách này đã có đến 7 diễn giả giới thiệu. Hai tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm và Nguyễn Viết Kim giới thiệu cuốn thứ nhất. Ba nhà văn Bích Huyền, Nguyễn Chí Thiện và Trần Phong Vũ giới thiệu cuốn thứ hai. Mỗi một diễn giả trước khi lên diễn đàn đều được nhà văn Quyên Di trịnh trọng giới thiệu về những hoạt động, thành tích của mỗi người.

Nói về cuốn sách của ba tác giả Mai Thanh Truyết, Nguyễn Minh Xuân và Phan Văn Song, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm nhận định: "Ðây là một công trình biên soạn công phu, phân tích thật cẩn trọng của ba tác giả. Nội dung của tác phẩm phơi bầy quá trình mộng bành trướng của Tàu Cộng. Vào năm 1979, khi Tàu Cộng đưa quân sang Việt Nam để 'cho Việt Nam một bài học' thì thế giới thấy rằng sức mạnh của Trung Cộng không có gì đáng kể. Nhưng từ 1980 khi Ðặng Tiểu Bình thực hiện việc phát triển kinh tế với chủ trương 'Mèo trắng mèo đen, mèo nào cũng tốt miễn là bắt được chuột' thì bộ mặt Trung Cộng đã đổi khác. Trong khi đó thì Cộng Sản Việt Nam mất chỗ dựa vào Liên Xô đành phải quay về quy phục Trung Cộng với những hiệp ước mất đất biên giới, mất biển, hải đảo và nay lại mất thêm đất qua các vụ để Trung Cộng vào Tây Nguyên và miền Trung (Thanh Hóa) khai thác các mỏ quặng. Cuốn 'Từ Bauxite đến Uranium' ba tác giả Mai Thanh Truyết, Nguyễn Minh Xuân và Phan Văn Song đã vạch rõ tiến trình xâm lược này. Xin quí vị hãy đọc để biết rõ từng chi tiết".

Tiếp lời Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Tiến Sĩ Nguyễn Viết Kim sau khi nhận xét rằng tác giả Mai Thanh Truyết là người đã không màng danh lợi do từ vị trí một tiến sĩ Quốc Gia Pháp đã trở về đất nước đem hết tâm trí khả năng của mình mà phục vụ dân tộc. Diễn giả cho rằng "Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết đã trình bày nội dung sách không bằng những kết luận nhận xét trước rồi chứng minh sau như thường thấy trong những sách biên khảo, mà Tiến Sĩ Truyết đã dùng tất cả những sự kiện, thực tế để cho người đọc tự nhìn ra được kết luận phải có". Và sau đó diễn giả kết luận rằng: "Việc khai thác Bauxite của Trung Cộng tại Việt Nam không phải chỉ là vấn đề chính trị quốc gia mà là vấn đề tương lai của nhân loại".

Kết thúc phần ra mắt cuốn "Từ Bauxite đến Uranium", tác giả Mai Thanh Truyết cho biết "cuốn sách chưa được cập nhật hóa. Tin mới nhất cho biết chính quyền nhà nước CSVN vừa ra thêm chỉ thị nối kết một số bang hệ của người Trung Hoa vào việc khai thác Bauxite ở cao nguyên Trung phần, nơi mà các nhà chiến lược Ðông Tây đều cho rằng là một vị trí chiến lược để kiểm soát được cả vùng Ðông Nam Á Châu".

Qua phần giới thiệu cuốn truyện "Kim Salem" của nhà văn Chu Tất Tiến, ba nhà văn Bích Huyền, Nguyễn Chí Thiện và Trần Phong Vũ đều có chung một nhận xét rằng "Kim Salem" không chỉ là một cuốn truyện đọc để giải trí. Nội dung truyện còn khiến người đọc suy nghĩ về vấn đề giáo dục trong gia đình, một lời cảnh báo với các bực phụ huynh. Và, cả hai diễn giả Nguyễn Chí Thiện, Trần Phong Vũ còn cho rằng trong bối cảnh sinh hoạt văn học hải ngoại hiện nay, sách về chính trị thì nhiều nên những tác phẩm về văn học được ra mắt lúc này chính là để giải tỏa những ưu tư thời sự.

Sau cùng buổi ra mắt hai tác phẩm được chuyển qua phần hội thảo để người tham dự trao đổi với các tác giả về những khía cạnh mà hai cuốn sách đề cập đến.

Tản Mạn Cuối năm 2009

Tản mạn cuối năm 2009

 

Giữa cái tĩnh lặng của ngày cuối cùng của năm trong văn phòng, và còn hơn một giờ nữa nhân viên mới đến làm việc, bên cạnh ly nước  trà buổi sáng sớm, người viết vội ghi những suy nghĩ tản mạn dưới đây.

Một năm đã qua, một năm với biết bao thay đổi ở Việt Nam và thế giới. Riêng cho Việt Nam, và nếu nhìn lại suốt 365 ngày dài, chúng ta thấy gì?

Cho dù có cái nhìn hết sức lạc quan, cho dù cố gắng tìm một điểm son cho chế độ hiện hành, chúng ta vẫn không thể nào kiếm được một điểm nào dù thật nhỏ nhoi!

Rất tiếc! Một đất nước với 86 triệu nhân khẩu, một đất nước với 86 triệu bộ óc mà không nảy sinh ra được một điều hay, một điều đẹp cho người dân. Vì sao?

Chỉ vì đất nước đang bị "cai trị" bởi một nhóm quyền lực với một hệ thống công an sẳn sàng bóp chết tất cả mọi khát vọng tự do dân chủ của người dân. Ngôn ngữ ba dòng thác cách mạng tuy không còn được sử dụng như những ngày đầu tiến chiếm miền Nam, nhưng thực sự, sự trấn áp còn thô bạo hơn nữa trong hiện tại.

Những hình thức trấn áp áp dụng cho người dân thấp cổ bé miệng đôi khi còn dã man hơn những đòn thù thời Trung cổ, tuy không chặt tay, móc mắt, tuy không treo cổ, xẻo thịt….nhưng hình thức trấn áp ngày hôm nay tinh vi hơn nhiều bằng nhiều hình thức khủng bố khác nhau.

Ngoài việc chà đạp nhân phẩm của con người trực tiếp dưới bộ áo quần công an, chế độ còn tạo dựng ra những nhóm gọi là côn đồ để trấn áp phật tử, con chiên Thiên chúa hay Tin lành, tín đồ Hòa Hảo, Cao Đài trong suốt chiều dài của năm, và diễn ra từ Bắc chí Nam. Chế độ còn thẳng tay bóp chết mọi mầm mống dân chủ tự do của tất cả người dân nào không chịu đi bên "lề phải" của chế độ.

Với một vài khẩu hiệu, một vài bài viết, Trần Anh Kim bị 5,5 tù vì tội "âm mưu lật đổ chế độ". Và sẽ còn biết bao tuổi trẻ Việt Nam trong những ngày sắp đến sẽ phải chịu tù tội  vì những hành động tương tự như cựu Trung tá của chế độ Trần Anh Kim.

Nhìn chung, có thể nói tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay không còn biết sợ nữa. Qua những blogger, qua những tâm tình nhằm mục đích kêu gọi  sự chuyển hóa theo chiều hướng tích cực của chế độ hầu mang lại không khí tự do cho người dân; nhưng trong suốt một năm qua, điều nầy không xảy ra và thay vì lắng nghe và "sửa đổi", chế độ càng tăng cường sự đàn áp, khủng bố  ngày càng tồi tệ hơn nữa.

Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, thế kỷ của tin học, thế kỷ của công nghệ nano mà vẫn còn những đòn thù nhan nhản giữa thủ đô ngàn năm văn vật như quăng phân, đổ đồ dơ trước nhà các chiến sĩ tranh đấu cho tự do và dân chủ, như đánh đập các cụ già giữa thành phồ đông đảo người qua lại và dưới mắt người ngoại quốc.

Chưa bao giờ sĩ diện quốc gia Việt Nam bị đánh giá thấp như ngày hôm nay.  

Đất nước sau gần 35 năm thống lãnh toàn cõi, chế độ ngày càng xa rời người dân, một chế độ biến dân thành kẽ thù của những người quản lý. Và nghịch lý thay, kẽ thù chính thống là TC lại được "nâng niu" lên hàng huynh đệ nếu không nói là "phụ mẫu".

Chưa có cái nhục nào cho dân tộc như cái nhục ngày hôm nay. Trong lịch sử, Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc chỉ là những cá nhân cúi đầu uốn lưỡi trước TC để mãi quốc cầu vinh. Còn hôm nay, cả một tập đoàn lãnh đạo thần phục và mọp mình trước kẽ thù truyền kiếp để thẳng tay đàn áp cả dân tộc mình.

Những vết nhơ ấy đời đời lịch sử sẽ ghi tạc. Ải Nam Quan với cột mốc 1116, Thác Bản Giốc và hàng ngàn cây số vuông biên giới phía Bắc đã mất về tay Bắc phương. Hoàng Sa, và một số đão ở Trường Sa đã là quận huyện Tam Sa của tỉnh Hải Nam, vùng biển Đông của Việt Nam đã bị tiến chiếm mà không có một lời phản đối. Tàu đánh cá TC bị nguy khốn ngoài biển Việt Nam được Hải quan VN đến tiếp cứu, còn ngư dân đánh cá VN bị "tàu lạ" cướp bóc trên hải phận, thậm chí nằm trong hải phận 12 hải lý, hải quân VN vẫn án binh bất động.

Chỉ nội việc không dám nêu đích danh TC mà chỉ e dè nói đến "tàu lạ" là một quốc sĩ rồi.

Còn đâu đã hết. Cao nguyên Trung phần Việt Nam đang dậy sóng hơn một năm nay chỉ vì Việt Nam đã giao khoán cho TC khai thác bauxite, hoàn toàn không "biết" họ đang làm gì với hàng ngàn công nhân (hay quân nhân dưới dạng công nhân) ở trong các khu biệt lập như Tân Rai và Nhân Cơ.

Và dù đã giao khoán cho TC từ hơn một năm nay, nhưng Thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng qua Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải mới ra chỉ thị cho các Bộ liên quan lập thủ tục cung cấp giấy phép khai thác. Đây là một việc làm hoàn toàn vi phạm Luật Môi trường của Việt Nam, đã được Liên Hiệp Quốc trợ cấp 3 triệu Mỹ kim  để thành lập, trong đó quy định công ty khai thác phải nộp bản nghiên cứu tác động môi trường trước khi duyệt xét toàn bộ quy trình sản xuất. Điều nầy đã không xảy ra vì "ông chủ" là Ông nội TC.

Nghịch lý hơn nữa là Việt Nam lại vừa ký kết với Cambodia nhằm mục đích đầu tư 6 tỷ Mỹ kim để khai thác bauxite tại  đây. Việc làm nầy giống như đem đất hương quả của cha ông ngàn đời cho ngoại bang dày xéo rồi chạy qua nhà hàng xóm thuê đất cày.

Nếu việc nầy thể hiện tinh thần quốc tế vô sản, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề nghị lãnh đạo Việt Nam nên dâng hiến tất cả con dân chất phác còn lại cộng chung với bầu đoàn thê tử qua phục vụ cho đàn anh nước lớn cho trọn tình "sông liền sông, núi liền núi" và trọn nghĩa  của "16 chữ vàng".

Tuy suốt trọn một năm không thấy được một điều nào tích cực cho lãnh đạo Việt Nam, nhưng người viết vẫn tin với một niềm tin sắt đá là chắc chắn Việt Nam sẽ phải thay đổi trong một tương lai gần đây. Lý do là ngày hôm nay, có nhiều chỉ dấu cho thấy tuổi trẻ Việt Nam đã không còn vướng bận "sinh tử phù" "sợ" của đảng nữa, mà là qua hồn thiêng sông núi, đã cấy sinh tử phù sợ đó qua những đảng viên nồng cốt.

Và càng trấn áp, càng sử dụng bạo lực tàn bạo chừng nào, họ đã để lộ bản năng sợ hãi cho người dân và quốc tế thấy rõ bộ mặt thật của chính họ.

Đã đến lúc, những người cộng sản Việt Nam cần phải diện bích và sám hối. Nếu không, trúc rừng còn lại cũng sẽ không đủ để viết lên hết những vết nhơ của dân tộc trong giai đoạn lịch sử nầy.   

Tinh thần Nguyễn Văn Lý, tinh thần Lê Thị Công Nhân bất diệt!

Mai Thanh Truyết

31/12/2009

 

 

 

  

Việt Báo- Ra Mắt sách

Ts Mai Thanh Truyết, Nv Chu Tất Tiến Ra Mắt Thành Công 2 Sách: 'từ Bâu Xít Đến Uranium' Và 'kim Salem'   Việt Báo Thứ Hai, 1/4/2010, 12:00:00 AM

TS Mai Thanh Truyết, NV Chu Tất Tiến Ra Mắt Thành Công 2 Sách: 'Từ Bâu Xít Đến Uranium' Và 'Kim Salem'

TS Mai Thanh Truyết (phải) và Nhà văn Chu Tất Tiến tại hội trường Việt Báo trong buổi ra mắt 2 tác phẩm "Từ Bâu Xít Đến Uranium" và "Kim Salem."


WESTMINSTER (VB) - Ngày đầu năm 2010, cộng đồng người Việt tại Quận Cam có một sinh hoạt văn học đáng ghi nhớ, đó là buổi ra mắt  tác phẩm "Từ Bâu Xít Đến Uranium" của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết và "Kim Salem" của Nhà văn Chu Tất Tiến tại hội trường Việt Báo vào chiều Chủ Nhật, ngày 3 tháng 1 năm 2010.
Nhiều khuôn mặt nổi bật trong sinh hoạt chính trị và văn học của người Việt tại Quận Cam đã có mặt cùng với đông đủ đại diện các cơ quan truyền thanh, truyền hình, báo chí và hàng trăm thân hữu, đồng hương đã tham dự trong buổi ra mắt sách của Mai Thanh Truyết và Chu  Tất Tiến, trong đó có Phó thị trưởng thành phố Westminster Tạ Đức Trí, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Tiến Sĩ Nguyễn Viết Kim, Nhà văn Bích Huyền, Nhà văn Trần Phong Vũ, Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, Nhà văn  Quyên Di, v.v…
Phần điều hợp chương trình là Nhà văn Quyên Di với cái duyên dáng dễ thương của một nhà văn, một nhà giáo làm tăng thêm sinh khí cho buổi ra mắt sách.
Mở đầu chương trình là phần chào quốc kỳ Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa và phút mặc niệm.
Trong lời dạo đầu, Nhà văn Quyên Di cho biết rằng buổi ra mắt 2 tác phẩm nhìn bên ngoài thì có vẻ như không ăn nhập gì nhau, nhưng qua 2 lãnh vực tác giả và tác phẩm thì có liên hệ. Liên hệ vì 2 tác giả Mai Thanh Truyết và Chu Tất Tiến là bạn bè thân nhau. Liên hệ vì 2 tác phẩm đều đề cập đến vấn đề xã hội nóng bỏng trong những thời kỳ nào đó nhằm giúp xã hội Việt Nam thăng tiến hơn lên.
Tác phẩm "Từ Bâu Xít Đến Uranium" của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết đã được Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm và Tiến sĩ Nguyễn Viết Kim giới thiệu.
Tác phẩm "Kim Salem" của Nhà văn Chu Tất Tiến thì được Nhà văn Bích Huyền, Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và Nhà văn Trần Phong Vũ  giới thiệu.


Độc giả mua sách ủng hộ 2 tác giả Mai Thanh Truyết và Chu Tất Tiến trong buổi ra mắt 2 tác phẩm "Từ Bâu Xít Đến Uranium" và "Kim Salem," tại hội trường Việt Báo.


Trong phần giới thiệu tác phẩm "Từ Bâu Xít Đến Uranium" của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, cả 2 vị diễn giả đều nêu bật hai yếu tố: sự tác hại vô cùng về mặt môi trường của việc khai thác Bauxite và hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng đối với Việt Nam qua việc khai thác Bauxite.
Điều này đã được khẳng định thêm một lần nữa bởi chính tác giả Mai Thanh Truyết trong phần phát biểu cảm tưởng, khi ông nói rằng, "Trung Cộng và Việt Nam dựng lên việc khai thác Bauxite để làm chuyện khác." Và ông kêu gọi "mỗi người Việt Nam chúng ta ở hải ngoại có bổn phận nói lên tiếng nói đó."
Cả 3 vị giới thiệu tác phẩm "Kim Salem" của Nhà văn Chu Tất Tiến đều cho rằng tác giả viết chuyện này để gởi gấm chút kinh nghiệm của ông cho con cháu và cảnh báo các bậc cha mẹ nên lưu tâm đặc biệt đến con cái. Nhà văn Bích Huyền khi giới thiệu về tác giả Chu Tất Tiến đã khẳng định rằng, "Lúc nào [nhà văn Chu Tất Tiến] cũng giữ vững tinh thần chống cộng rất cao, rất bền bỉ trong suốt 20 năm nay." Nhà văn Bích Huyền cũng nhấn mạnh rằng tác phẩm "Kim Salem" có nội dung tuy xưa, nhưng không cũ chút nào cả. Theo Nhà văn Bích Huyền, điều đặc biệt nhất trong tác phẩm "Kim Salem" là câu chuyện về người thanh niên sau một thời gian sa ngã bụi đời đã tự vươn lên để sống một đời sống bình thường.
Trong phần phát biểu, Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện nói rằng văn học có nhiệm vụ mô tả mọi khía cạnh của đời sống. Và qua những mô tả của các tác phẩm văn học, như cuốn "Kim Salem" mà người đọc, cụ thể là bản thân ông, biết được rất nhiều điều trong thế giới không may mắn của những kẻ bụi đời, trong bối cảnh xã hội Miền Nam trước năm 1975.
Nhà văn Trần Phong Vũ đã bày tỏ sự ngạc nhiên về một Chu Tất Tiến với "Thập bát ban võ nghệ đều tinh thông," trong tác phẩm "Kim Salem." Ông cho rằng Chu Tất Tiến muốn đi theo bước chân của Nhà văn Nguyễn Thụy Long và Duyên Anh của Việt Nam thời trước.
Buổi ra mắt sách, sau đó, đi vào phần trao đổi giữa 2 tác giả và cử tọa tham dự trong tinh thần tìm hiểu thêm một số vấn đề liên quan đến 2 tác phẩm đã trình bày.

VAMRF-20-12-2009

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết Nói Về Quặng Bauxite Tây Nguyên, Vn   Việt Báo Thứ Bảy, 12/26/2009, 12:00:00 AM

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết Nói Về Quặng Bauxite Tây Nguyên, VN: Thực Sự Là Quặng Phóng Xạ, Mưu Đồ Hán Hóa VN Của TC

Tiến sĩ Mai Thanh Truyết nói chuyện về khai thác bauxite.

Westminster ( Cổ Ngưu ) - - Tối Chủ Nhật 20 tháng 12 năm 2009, tại nhà hàng Seafood World, Hội Y Khoa Việt Mỹ (Vietnamese American Medical Reserch Foundation) tổ chức buổi thuyết trình về đề tài chuyên môn trong Y Khoa do Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Bác Sĩ Nguyễn Hoàng Lan điều hợp chương trình với sự tham dự hầu hết các Bác Sĩ, Dược Sĩ trong vùng Nam California trong số có cựu Giáo Sư Đào Hữu Anh  cựu Khoa Trưởng Đại Học Y Khoa Sài Gòn trước 1975. Quan khách có Tiêán Sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh và Phu Quân, Nhà Văn Minh Đức Hoài Trinh, Nhà Văn Nguyễn Quang và một số thân hữu tham dự.
Trong dịp nầy Hội mời Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết thuyết trình ngắn gọn về việc khai thác Bauxit và âm mưu xâm lăng của Trung Cộng.
Mở đầu phần thuyết trình TS Mai Thanh Truyết cho chiếu lại một số hình ảnh tai hại trong việc khai thác Bauxit ở Trung Cộng. Oâng nhấn mạnh đến những âm mưu thâm độc hiện nay của Trung Cộng là chúng muốn xé nhỏ bằng cách "nói chuyện riêng" với từng dân tộc thiểu số khuyến khích họ tự trị, đối với Việt Nam như vụ Hoàng Sa, Trường Sa chẳng hạn chúng đã đi thảo luận riêng từng nước một chứ không muốn nói chuyện chung toàn khối Asean. Oâng nói chuyện Hoàng Sa, trường Sa và Bauxit cao nguyên đều giống nhau, trong chính sách chia để trị, Trung Cộng muốn cắt đôi Việt Nam bằng vụ khai thác Bauxit."
Vén Lên Màn Bí Mật Tại Việt Nam:
Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ?
Trong hiện tại, chúng ta có thể nói một cách chính xác và không sợ phản biện là những người lính Tàu dưới dạng công nhân đang hiện diện đầy rẫy trên quê hương Việt Nam của chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, giống như mọi quốc gia trên thế giới như Tây Tạng, Tân Cương, Phi Châu…những nơi có dấu chân TC khai thác các công trình quặng mỏ  hay những công ty sản xuất khác tại những nơi nầy.
Cộng sản Việt Nam cũng như Trung Cộng (TC) cũng không thể nào chối cãi được nhận định trên. Tại Việt Nam, người Trung hoa dù dưới dạng công nhân hay chuyên viên, mỗi khi vào một công ty nào đó đều sinh hoạt hoàn toàn riêng rẽ , nói chuyện với nhau bằng tiếng Hán mà thôi. Họ xây dựng lều trại làm nơi ăn ở, giải trí và có cuộc sống hoàn toàn cách biệt với các cộng sự viên người Việt. Thậm chí, mỗi khi có tranh cãi, họ ăn hiếp, đánh đập công nhân Việt. Thật không có gì nhục nhã cho bằng hiện tượng nầy xảy ra ngay chính trên mãnh đất quê hương của mình mà cán bộ hay công an cố tình làm ngơ trước những nghịch cảnh trên.
Những khu biệt lập nầy do TC hoàn toàn quản lý mọi sinh hoạt, không có người "lạ" nào hay cán bộ, công an Việt Nam có thể bén mãn đến được, mặc dù những công ty họ làm việc, đa số đều do người Việt quản lý.
Cho đến hôm nay, những tệ trạng trên tiếp tục diễn ra ở khắp mọi nơi, tạo nên một luồn sóng phẩn uất trong lòng người Việt, và thiết nghĩ những người công nhân lương thiện nầy sẽ có ngày đứng lên dành lại quyền công nhân thực sự và sẽ không để công nhân TC hiếp đáp mãi mãi được.
Những sự kiện tương tự cũng đã từng xảy ra ở những quốc gia có người Hán xâm nhập, đôi khi đi đến đổ máu như ở Tân Cương, Tây Tạng, và gần đây nhứt tại thành phố Alger, Algeria, qua những nguyên nhân hết sức cá nhân, nhưng từ đó xảy ra những cuộc đụng độ có tích cách chủng tộc vì sự hống hách, ức hiếp của người Hán trên mãnh đất quê hương của người bản xứ.
Trờ lại Việt Nam, riêng tại hai vùng hiện đang là điểm nóng ở Việt Nam; đó là Tân Rai ở Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông. Hai nơi nầy hiện đang được TC phát động kế hoạch khai thác quặng mỏ bauxite từ hơn một năm nay dưới sự đồng thuận của CS VN. Sau khi không thể bưng bít được từ hơn 6 tháng nay, cs Việt Nam đã phải bạch hoá công bố hai công trình trên mặc dù đã ký kết với TC từ năm 2001 giữa Nông Đức Mạnh và Hồ Cẩm Đào, qua quá nhiều áp lực của đông đảo từng lớp dân chúng ở quốc nội cũng như ở hải ngoại cảnh báo về hiễm hoạ từ môi trường, kinh tế, chính trị, và quân sự nếu để cho TC khai thác hai vùng nầy.
Nhưng trầm trọng hơn cả là qua việc nhường bước cho TC khai thác, cs Việt Nam để lộ ra tinh thần quốc tế vô sản (?) (mà bây giờ đã biến thành tinh thần quốc tế hữu sản chăng?) trong việc hợp tác với TC. Và đây cũng có thể được xem như là một tiến trình then chốt của việc tiến chiếm Việt Nam không tiếng súng của TC.
Ngay từ giờ phút nầy (8/2009), đã có sự hiện diện của trên 570 công nhân TC ở Tân Rai và trên 300 ở Nhân Cơ. Đây là những con số do chính Ủy Ban nhân dân ở hai tỉnh trên công bố. Thiết nghĩ, con số thực sự chắc phải cao hơn nhiều và theo như dự kiến của hai công trình khai thác trên, con số công nhân TC sẽ đạt đến 5.000 người cho mỗi nơi. . . . . .
Oâng cũng thông báo một vài chi tiết có liên quan đến sức khoẻ, ảnh hưởng đến việc khai thác Bauxit. . . . Đề qúa rộng lớn, trong phạm vi thời gian không cho phép nên TS Mai Thanh Truyết cũng dành thời giờ để giải đáp một số thắc mắc được qúy vị Bác Sĩ nêu lên.
Trong không khí thân mật của buổi tối cuối tuần trong đại gia đình Y khoa và quan khách tham dự cùng dùng cơm tối để hàn huyên tâm sự về tình hình bệnh tật, về tình hình đất nước trước nguy cơ xâm lăng của Trung Cộng hiện nay.

Thượng đỉnh Copenhagen 2009

Thượng Đỉnh Copenhagen: Hiện tượng Duy Lý, Duy Tâm, và Duy Ngã

 

Hiện tượng Hâm nóng toàn cầu đã được toàn thế giới cùng đặt vấn đề qua Hội nghị Thượng đỉnh Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1992. Nhưng mãi đến năm 1997, Nghị định thư Kyoto mới được các quốc gia đồng ý trên nguyên tắc là cần phải giảm thiểu từ 5 đến 10% mức phát thải khí carbonic CO2 so với định mức phát thải của năm 1990 cho từng quốc gia cho đến năm 2012. Các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tây, Nam Dương v.v…đều được miễn trừ đối với nghị định thư nầy.

Theo quy định, quốc hội của các quốc gia cần phải chấp thuận các điều luật trong Nghị định thư (NĐT) trước khi NĐT được chánh thức trở thành luật. Hoa Kỳ, với sự phân công chịu trách nhiệm của 27% tổng số lượng khí phát thải toàn cầu, không đồng ý với quyết định của NĐT Kyoto, cho nên không ký cũng như quy trách sự bất công qua việc miễn trừ 2 quốc gia Trung Cộng, với mức phát thải CO2 thời bấy giờ (1997) là 12%, và Ấn Độ (8%) trên tổng lượng CO2 phát thải trên thế giới.

Úc Châu cũng phản đối không chịu ký, nhưng sau cùng vào năm 2004, chấp nhận quy định của NĐT Kyoto, và nghị định nầy có được trên 50% quốc gia chịu trách nhiệm chấp thuận. Do đó, vào tháng giâng năm 2005, NĐT Kyoto đã biến thành luật.

Nhưng, năm 2012 đã gần kề, chỉ có một vài quốc gia áp dụng và thi hành luật trên như Anh và Đức…Pháp có cố gắng giảm thiểu nhưng vẫn không đạt được mức yêu cầu.

Có thể nói, Nghị định thư và Luật Kyoto đã thất bại vì hiện nay 2009, TC đã phát thải hàng năm là 6,6 tỷ tấn CO2 (2008), đứng trên Hoa Kỳ với 6,3 tỷ (2008), và Ấn Độ đứng hàng thứ tư với 1,4 tỷ. TQ và Ấn Độ là hai quốc gia được miễn áp dụng Luật Kyoto. (xin đọc các bài viết liên quan đến sự hâm nóng toàn cầu trên blog maithanhtruyet.blogspot.com).

Các quốc gia trên thế giới đã nhận rõ tính cách không hợp lý của Luật Kyoto cho nên đã chuẩn bị nhiều cuộc họp từ nhiều năm qua, như cuộc họp thượng đỉnh thu hẹp ở Bali, Nam Dương năm 2007, chuẩn bị cho Thượng Đỉnh Copenhagen vừa diễn ra từ 6 đến 18/12/2009 ở Đan Mạch vừa qua với mục đích hy vọng đưa ra những quy định mới áp dụng sau khi Luật Kyoto chấm dứt năm 2012 để dư phóng áp dụng cho đến năm 2020.

Trong buổi lễ bế mạc Thượng đỉnh, Tổng thư Ký Liên Hiệp Quốc, Ban Ki-Moon nói bản văn ký kết là một sự mở đầu thiết yếu dù đây không là một bản công ước mà mọi người mong đợi, trước sự phản kháng của người dân và một số NGO không được vào phòng họp, nhứt là ở những ngày cuối của Thượng đỉnh.

Lời của Ông Tổng thư ký kết thúc Thượng đỉnh năm nay cũng giống như lời của Tổng thống Ba Tây kết thúc Thượng đỉnh Rio de Janeiro năm 1992! Tất cả cũng là một sự mở đầu và 17 năm sau cũng là một sự mở đầu cần thiết hay thiết yếu! (On recommence par le commencement.)

Sau 12 ngày thảo luận, Thượng đỉnh chỉ đưa ra được những khuyến cáo chung chung do Hoa kỳ, Trung Cộng, Ấn Độ, Ba Tây và Nam Phi họp kín, nhưng Tổng thống Obama đã rời phòng họp để về lại Mỹ trước khi bản thông cáo chung được công bố. Kết quả hầu như hoàn toàn không đạt được yêu cầu và ước muốn của đa số thành viên tham dự ngoài việc phát thải thêm gần 45 ngàn tấn CO2 vào môi trường. Cũng cần nên để ý là Tây Âu hoàn toàn đứng ngoài trong quyết định chung quyết của Thượng đỉnh kỳ nầy. Năm quốc gia nhóm họp kín chính là 5 nước có tổng số khí carbonic phát thải trên 60% tổng số khí phát thải toàn cầu.

Trước một vấn nạn chung của toàn cầu, chúng ta học được những bài học gì qua cung cách hành xử của những quốc gia trên thế giới, từ các đại cường đến những nước nhược tiểu, từ cung cách phát biểu của các quốc gia Tây phương đến thái độ ứng xử của những nước cộng sản như TC và Việt Nam qua diễn biến và phản ứng ở Thượng đỉnh vừa qua.

Hầu hết các quốc gia tham dự Thượng đỉnh đều đồng ý với nhận định của các khoa học gia là cần phải giảm thiểu mức phát thải CO2 cho đến năm 2020 của mỗi quốc gia từ 20 đến 40% so với định mức phát thải năm 1990, nếu không nhiệt độ trên thế giới có thể tăng lên 20C gây ra nhiều thảm họa cho các quốc gia có độc cao thấp so với mặt biển như Việt Nam, Bangladesh, vùng New Orleans (Hoa Kỳ) v.v… Nhưng văn bản ký kết ở Thượng đỉnh chỉ là một bản văn mơ hồ, không đưa ra một quy định rõ ràng nào cả, ngoài một số quy định chung chung về việc khuyến cáo các quốc gia cố gắng tự tiết giảm trên và giúp đở các nước nghèo trong việc cắt giảm khí CO2 của họ.

Các điểm bất đống chính yếu vẫn là:

-       Mức q uy định cắt giảm phát thải của các nước phát triển kỹ nghệ;

-       Trợ giúp các quốc gia đang phát triển trong việc hạn chế việc phát thải CO2;

-       Biện pháp kiểm soát việc thi hành cắt giảm.

Chính ba bất đồng trên đã làm cho Thượng đỉnh đi đến bế tắc. Chỉ có một đồng thuận duy nhứt là Thượng đỉnh sẽ tiếp tục nhóm họp và thảo luận tiếp vào năm 2010 tại Mexico City trước khi đi đến kết  luận quy định vào năm 2016.

Duyệt xét về nguyên nhân nào đưa đến sự bất đồng giữa các quốc gia về việc phân chia tỷ lệ phát thải cho mỗi nước, qua tiến trình tranh luận ở Thượng đỉnh Copenhagen vừa qua, TC và Hoa Kỳ là hai quốc gia gây ra nhiểu tranh cãi nhứt. Và cả hai đã vô tình hay hữu ý vận động "tranh thủ bè phái" về phía mình: Hoa Kỳ với nhóm G8, và TC với nhóm quốc gia G77 gồm những quốc gia Á châu, Trung và Nam Mỹ Châu, cùng Phi Châu. Một nhóm đứng trung dung chờ xem cuộc "tranh thương hổ đấu" giữa TC và Hoa Kỳ là Nhật Bản , đại diện cho nhóm G27 gồm những quốc gia "chờ" không nằm trong hai nhóm đầu.

Có thể nói, ba khuynh hướng trên thể hiện ba hướng suy nghĩ về duy tâm, duy lý, và duy ngã, đề tựa cho bài viết về Thượng đỉnh Copenhagen nầy.

Hướng Duy lý

Trước hết, các quốc gia Tây phương thường có khuynh hướng duy lý, nghĩa là nhận xét, suy luận, phân tách…mọi vấn đề qua các dữ kiện đã được chứng nghiệm. Từ cung cách duy lý đó, áp dụng vào tình hình thực tế từng quốc gia một, đôi khi không thể hiện hết được kết quả suy luận của vấn đề, nhứt là vấn đề có liên quan đến con người như sự hâm nóng toàn cầu.

Hoa Kỳ có thể nói là đại diện cho nhóm G7, đã phủ nhận việc phân chia trách nhiệm trong việc phát thải khí carbonic với lập luận là cần phải xét lại vấn đề tạo ra tỷ lệ sản phẩm vật chất so với cùng một phát thải. Mặc dù phát thải ít hơn TC, nhưng Hoa Kỳ đã tạo ra 25% sản phẩm cho thế giới trong lúc đó, TC chỉ sản xuất 15%. Do đó TC phải chịu trách nhiệm trong việc tiết giảm CO2 nhiều hơn tỷ lệ 6,6/6,3, nghĩa là nếu HK phải tiết giảm 30% cho đến năm 2020 thì TC phải tiết giảm 52% ( 30% x 25 : 13 và x 6,6 : 6,3). Dĩ nhiên là TC không chấp nhận. Và đây cũng chính là nguyên nhân HK không phê chuẩn Nghị định thư Kyoto.

Thêm nữa, người Hoa kỳ với tình thần cá nhân chủ nghĩa, do đó trong tâm thức của mỗi người dân thường không có tầm nhìn rộng trong sinh hoạt hàng ngày. Họ chỉ biết hưởng thụ những gì đất nước Hoa Kỳ cung cấp cho họ như điện, nước, năng lượng. mà không nghĩ đến nguy cơ cạn kiệt năng lượng và nguồn nước trên thế giới. Điển hình là phương tiện chuyên chở công cộng để giảm thiểu việc phát thải khí carbonic không được phát triển trên đất nước nầy. Cũng như việc phí phạm nguồn nước tiêu dùng quả thật không thể chấp nhận được. Trung bình một người Mỹ xài từ 700 đến 1000 lít nước mỗi ngày tùy theo vùng, trong lúc đó một người Pháp xử dụng dưới 100 lít/ngày và còn rất nhiều nơi không có được 10 lít cho sinh hoạt hàng ngày.

Như đã nói ở phần trên, vấn đề hâm nóng toàn cầu đã được trên 100 nguyên thủ quốc  gia chính thức nêu lên và đồng thuận là cần phải có một giải pháp toàn diện từ năm 1992. Những đồng thuận căn bản như trích 0,7% ngân sách quốc gia của những nước giàu để viện trợ cho các quốc gia đang phát triển, chuyển đổi công nghệ mới và sạch cùng cung cấp kỹ thuật để giúp họ giải quyết vần đề môi trường v.v…Nhưng tất cả những kết ước trên đều không được tuân thủ vì nhiều lý do liên quan đến kinh tế quốc gia và chính trị…Chính vì thế mà tình trạng hâm nóng toàn cầu ngày càng trầm trọng thêm và tỷ lệ phóng thích khí carbonic vào không khí của các quốc gia đang phát triển cao hơn các quốc gia đã phát triển.

Hướng duy ngã

Mặc dù phân loại nhóm G77 do TC đại diện không có tính cách tuyệt đối, nhưng TC đã kéo theo một số quốc gia cực đoan vùng Nam Mỹ và Phi Châu cùng Á Châu. Họ đặt tinh thần quốc gia cực đoan và suy nghĩ theo cung cách duy ngã, do đó, mọi vấn đề chung của thế giới đều đi đến chỗ bế tắc như trường họp Thượng đỉnh Copenhagen vừa qua.

TC đã lấy một lý do hết sức ấu trỉ là phải chia lượng khí carbonic phát thải trên dân số của quốc gia. Nếu tính như thế thì TC phát thải ít hơn nhiều so với Hoa Kỳ. Cách tính nầy hoàn toàn không hợp lý. Cũng như khi bàn về vấn đề kiểm soát mức khí thải của mỗi quốc gia do một ủy ban quốc tề kiểm soát, TC không đồng ý và cho rằng làm như thế là "xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của TC" (trong lúc đó, đánh bắt, tịch thu tàu đánh cá Việt Nam trong hải phận Việt Nam thì không xâm phạm chủ quyền quốc gia!).

Những phát biểu trên đã làm tăng thêm tính cực đoan của Venezuela, Sudan và Tuvalu.

Sudan cho rằng bản đúc kết chung chỉ là những bản văn có giá trị Holocaust cho Phi Châu. Trong lúc đó, đại diện Venezuela còn đi xa hơn nữa là tố cáo Copenhagen Accord chỉ là hình thức do Hoa Kỳ chủ động nhằm chống lại Liên Hiệp Quốc. Tổng thống Chavez tuy không tham dự Thượng đỉnh, cũng tuyên bố…Đó là một sự gian trá đối với nhân dân thế giới.

Hướng duy tâm

Thông thường, theo tinh thần và suy nghĩ chung trên thế giới, người Á Châu chuyên về hướng nội, nghĩa là suy nghiệm nhiều về nội tâm. Nhưng ngày hôm nay, điều nầy có thể đúng với một số quốc gia còn giữ nguồn cội gốc, và không còn áp dụng với một số quốc gia khác đang đeo đuổi một chính sách quản lý đất nước cực đoan và độc tài, điển hình là TC, Việt Nam và Miến Điện.

Nước Nhật có nền kinh tế thịnh vượng đứng thứ hai hay thứ ba tùy theo cách tính chỉ sau Hoa Kỳ, nhưng chỉ phát thải 1,3 tỷ CO2 năm 2008 ( gần 5 lần ít hơn so với TC). Điều nầy chứng tỏ rằng người Nhật đã phát triển quốc gia theo đúng tiến trình phát triển bền vững ứng hợp với Nghị trình-21 về việc bảo vệ môi trường sống, tăng trưởng quốc gia và tăng phúc lợc cho người dân.

Chile, một quốc gia sản xuất đồng (copper) lớn nhứt trên thế giới, mang về cho ngân sách quốc gia gần phân nửa. Nhưng lãnh đạo Chile đã biết tự chế và hạn chế mức sản xuất để bảo vệ môi trường và tài nguyên khoán sản và phải điều chỉnh ngân sách quốc gia để thích ứng với việc thiếu hụt trên.

Indonesia, sau khi nhận định là cần phải cải cách nông nghiệp bằng cách huấn luyện nông dân về cách trồng lúa, xử dụng thuốc trừ sâu rầy, và phân bón cũng như nâng chính sách nầy lên tầm quốc gia. Chỉ sau 3 năm thực hiện, chính sách đã đem lại lợi ích là mức sản xuất lúa tăng thêm và giảm được hàng tỷ Mỹ kim do việc nhập cảng phân bón và truốc trừ sâu rầy. Nhưng thành quả to lớn nhứt mà Nam Dương đã đạt được là bảo vệ môi trường sống của xứ nầy.

Còn cung cách phát triển của Ấn Độ, không chạy theo cung cách ăn xổi ở thì của TC như sản xuất hàng tiêu dùng nhứt thời theo kiểu "mì ăn liền", chứ không theo hướng phát triên kinh tế theo kinh điển của Clarke là giảm thiểu lượng nông dân, nâng tỷ lệ nhân công công nghiệp, và sau cùng tăng trưởng dịch vụ. Làm như thế Ấn Độ đã phát triển một cách đều đặn, tuy chậm chạp nhưng bền vững, không gây nguy hại cho môi trường nhiều.

Bốn quốc gia vừa kể trên đã theo hướng phát triển lấy tâm lành làm chuẩn, do đó vừa phát triển quốc gia vừa mang thêm phúc lợi cho người dân và vừa kiểm soát được mức phải thải carbonic, một vấn nạn chung của thế giới.

Kết Luận

Qua những nhận xét và lý giải kể trên, vấn đề phân công và phân nhiệm cùng việc quy định các lề luật để giảm thiểu sự hâm nóng tòan cầu qua việc tiết giảm phát thải khí carbonic là một việc làm thiên nan vạn nan nếu không nói là không thể nào giải quyết được.

Thế giới ngày hôm nay là một thế giới đa cực, trong đó có nhiều quốc cổ súy tinh thần dân tộc cực đoan gây ra nhiều xáo trộn cho thế giới. Nếu các quốc gia trên áp dụng đúng những chương trình do Liên Hiệp Quốc đề ra mà chính họ đã thảo luận và ký kết, thế giới sẽ sống hài hòa theo tinh thần trách nhiệm chung của cộng đồng thế giới.

Rất tiếc, điều nầy không xảy ra.

Trở qua Thượng đỉnh Copenhagen, TC, một mặt xưng hùm xưng bá, chứng tỏ ta đây là một cường quốc, có mặt thường trực trong Hội đồng Bảo an LHQ có quyền phủ quyết, có quyền can dự vào mọi chuyện trên thế giới. Nhưng trong một mặt khác, về việc bảo vệ môi trường chung, vẫn "năn nỉ" thế giới để được xếp vào các quốc gia đang phát triển để được "trợ cấp" trong việc nâng cấp công nghệ và tiết giảm phát thải khí carbonic. Hai cung cách ứng xử nầy đã làm cho thế giới khinh rẽ!

Người CS TQ có biết chăng, chính họ đã làm cho môi trường sống của người Trung hoa ngày càng xấu đi, và có thể nói người nông dân Trung hoa, ngày càng nghèo hơn, và điều kiện sống càng xấu đi. Phát triển của TC hoàn toàn đi ngược lại với tiến trình toàn cầu hóa ngày hôm nay.

Trở qua Việt Nam, đi phó họp Thượng đỉnh là để thu thập, rút tỉa kinh nghiệm hầu áp dụng cho việc phát triển đất nước. Nhưng ngược lại, Việt Nam đã làm một việc cũng xấu hổ như TC đã làm, thể hiện cung cách "cái bang" trước thế giới bằng cách mang hai "nông dân" vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nạn nhân (?) của sự hâm nóng toàn cầu ngõ hầu đánh động lương tâm thế giới để ….xin tiền, (giống như mang những người tàn tật và gán cho là nạn nhân của chất độc màu da cam đi trình diễn khắp nơi cùng nhằm mục đích xin tiền).

Trong lúc đó, ở bình diện khác, Viêt Nam tự xưng nào là đỉnh cao trí tuệ, nào là thay trời làm mưa, nào là Việt Nam và Cuba canh giữ hòa bình thế giới, nào là "tôi vừa động viên ông Obama, vừa phân hóa nội bộ họ…". Không biết ở Việt Nam ngày nay, có còn ai đi bán "cái liêm sỉ" để cải thiện cuộc sống đói nghèo hay không?

Vấn đề hâm nóng toàn cầu là trách nhiệm của MỖI người, MỖI quốc gia; do đó tất cả phải cùng chung lưng đâu cật để giải quyết vấn đề trong chiều hướng toàn cầu hóa. Mọi khuynh hướng dân tộc cực đoan, chủ nghĩa bá quyền cần phải chuyển thể nhường cho lòng bác ái, tương thân tương trợ nẩy mầm để được xứng đáng làm một "công dân thế giới".

Phát triển quốc gia cần phải phát triển trong trách nhiệm toàn cầu chứ không phát triển theo kiểu "tư bản đang dảy chết", mà cũng không phải phát triển nửa mùa như "phát triển tư bản theo định hướng xã hội chủ nghĩa".

Mai Thanh Truyết

Mùa Vọng, 12/24/2009

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hội Luận San Jose 19/12/2009

Dân Tộc Sinh Tồn Trong 60 Năm Bị Giặc Tàu Ðô Hộ

 

Ngày 23 tháng 12 năm 2009

 

H,

 

Bài viết được phóng viên Trân Văn đưa lên đài RFA ngày 21-12-2009 có nhắc lại "Tại Diễn đàn Châu Á, diễn ra ở Bác Ngao, Trung Quốc, hồi tháng 4 năm nay, ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam và ông Ôn Gia Bảo, Thủ tướng Trung Quốc, tuyên bố, cả hai đã "nhất trí chọn năm 2010 làm Năm hữu nghị Việt - Trung". Hai ông giải thích, sở dĩ năm 2010 được chọn làm "Năm hữu nghị Việt - Trung" vì nó là mốc, đánh dấu quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc tròn 60 năm. Hai ông cùng cho rằng, đây là sự kiện quan trọng đối với cả hai quốc gia".

 

Lời nhắc nhở đó khiến dư luận xót xa nghĩ tới hai chữ "hữu nghị" chỉ là cái vỏ bọc ngoài của sự thật "chủ tớ" của kẻ "đô hộ" và người "nô lệ". Ðiều này khiến Ba nghĩ tới sự thật đau lòng của hơn nửa thế kỷ Việt Nam bị Tàu đô hộ, khiến thời đại Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là "thời đại đồ đểu", và nền văn hóa của dân tộc Việt Nam coi như bị hủy hoại trầm trọng, như nhận xét của Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc: "...Bước vào không gian công cộng ở Việt Nam, nhất là không gian công cộng thuộc quyền nhà nước, từ uỷ ban nhân dân đến công an phường, quận, thành phố; từ bưu điện đến bệnh viện; từ bàn hải quan đến văn phòng xuất nhập cảnh, v.v... ở đâu người Việt Nam cũng dễ ghét. Cái dễ ghét ấy có thể được nhìn thấy ngay trên các chuyến bay về Việt Nam: Theo nhận định của nhiều người vốn đi nhiều, ít có tiếp viên hàng không nào dễ ghét như tiếp viên hãng Hàng Không Việt Nam; ít có công an cửa khẩu và nhân viên hải quan nào dễ ghét như những người làm việc tại các sân bay quốc tế tại Việt Nam. Một sinh viên của tôi, người Úc, rất mê Việt Nam, và vì mê Việt Nam, cuối cùng, lấy vợ Việt Nam. Chính trong thời gian làm đám cưới, phải chạy vạy làm đủ các loại giấy tờ, từ hôn thú đến bảo lãnh vợ sang Úc, anh phờ phạc cả người. Quay về Úc, anh than: Chưa bao giờ anh thấy nhân viên hành chính ở đâu dễ ghét bằng các nhân viên hành chính ở Việt Nam. Một người bạn khác của tôi, về Việt Nam thăm thân nhân bị bệnh, phải nằm bệnh viện, than: Chưa bao giờ thấy bác sĩ và y tá ở đâu lại dễ ghét như ở Việt Nam. Mặt mày ai cũng hầm hầm hay lạnh tanh. Người ta hỏi gì cũng quát, nạt. Họ chỉ dịu giọng được một lát khi nhận tiền lót tay. Một người bạn khác rất có thiện chí giúp đỡ Việt Nam, nhiều lần tổ chức quyên góp từ quần áo, sách vở đến máy vi tính ở Úc để chuyển về tặng cho người Việt; nhưng sau đó, đâm nản, cuối cùng, bỏ cuộc. Anh nói: 'Mình mang quà về giúp, nhưng ở đâu cũng bị làm khó dễ... '."

 

Nhưng, sự hủy hoại trầm trọng đó chỉ khiến các cấp lãnh đạo Ðảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trở thành những kẻ nói dối không biết ngượng, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng mình là kẻ ghét nói dối lại luôn miệng nói dối và làm toàn những chuyện dối trá; Chủ tịch Nhà nước Nguyễn Minh Triết thì bịa lời của Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Việt Nam nói về trường hợp Linh mục Nguyễn Văn Lý; và mới đây là Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh nói về vấn đề nhân quyền với Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ James Webb bị văn phòng của ông này nói là không có. Ðiều đáng nói là nó đã dừng lại ở cửa công quyền, cửa của Ðảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chớ trong chỗ giao tình giữa người với người bên ngoài công quyền, bên ngoài Ðảng và Nhà nước thì cái "đáng ghét" trở thành cái "dễ thương", cũng theo nhận xét của Nguyễn Hưng Quốc: "...Những nhân viên các loại và các cấp bị xem là dễ ghét trong công sở ấy có thể trở thành cực kỳ dễ thương với bạn bè, người thân hoặc người quen. Một viên công an mặt mày lúc nào cũng lạnh như tiền và lăm lăm đòi móc túi những người dân đến xin chứng nhận một thứ giấy tờ gì đó có thể là một người cởi mở, hào hiệp và hào phóng khi ngồi vào bàn nhậu với bạn bè... Có thể nói gọn lại thế này: Trong quan hệ cá nhân, người Việt thường đáng yêu; nhưng trong quan hệ công cộng, nhất là ở công sở, người Việt thường rất dễ ghét. Cũng có thể nói một cách khái quát hơn: ở Việt Nam, cứ hễ có chút quyền lực, bất kể là quyền lực gì, người ta liền biến ngay thành người dễ ghét. Bản tính dễ thương đến mấy cũng thành dễ ghét. Nếu không dễ ghét vì sự hách dịch, quan liêu hay tham lam thì cũng dễ ghét vì sự chậm chạp, cẩu thả, lười biếng và vô trách nhiệm. Bởi vậy, nhiều người nhận xét: Chơi với người Việt thì vui, nhưng làm việc với người Việt thì đúng là một cực hình. Trên bàn nhậu, ai cũng thông minh, biết điều, cởi mở; nhưng quay lại bàn giấy thì người ta lại lề mề, khó khăn, tắc trách, rất ít đáng tin cậy. Do đó, vấn đề không phải là bản tính mà là văn hoá. Mà văn hoá, nhất là văn hoá hành chính, lại gắn liền với chế độ".

 

Ðiều đó khiến Ba nghĩ tới Bản Năng Sinh Tồn Của Dân Tộc Việt. Nó cũng khiến Ba nghĩ tới buổi ra mắt sách và hội luận về "Ðại Họa Giặc Tàu Và Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn" vừa diễn ra tại Trung tâm ViVo chiều Thứ Bảy 19-12-2009 vừa qua. Xin ghi lại đây lời tường thuật về buổi ra mắt sách và hội luận đó:

 

Buổi ra mắt sách và hội luận được dư luận cho là mang nặng màu sắc chánh trị đã diễn ra tại Trung tâm ViVo của thành phố San Jose vào lúc 2gio30 ngày Thứ Bảy 19-12-2009 trùng hợp với nhiều sinh hoạt cộng đồng khác nên số người tham dự chưa ngồi kín hội trường 150 ghế như các lần trước. Sau khi chào cờ Việt-Mỹ và đồng hát Quốc ca Việt Nam, ca nhạc sĩ Vũ Lập đọc lời tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình cho lý tưởng tự do và cho Tổ quốc Việt Nam đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự tưởng niệm cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, người đã trọn đời tận tụy đấu tranh cho nền dân chủ pháp trị ở Việt Nam, đấu tranh cho sự sinh tồn của dân tộc Việt Nam.

 

Ngay khi tuyên bố khai mạc buổi ra mắt sách và hội luận, nhân danh Ban tổ chức Giáo sư Trần Minh Xuân đã ân cần giới thiệu 2 người dẫn chương trình [MC] là ca nhạc sĩ Vũ Lập và cựu sinh viên chiến tranh chánh trị Ðào Trung Chính. Sau đó, Giáo sư Ngô Ðức Diễm, nhân danh chủ nhà [TT ViVo] ngỏ lời chào mừng các diễn giả và quan khách từ xa đến San Jose, đặc biệt là nhà văn quân đội Hải Triều đến từ Vancouver, Canada, Thiếu tá Hoàng Ðình Khuê và phái đoàn đến từ miền Nam California, ông rất tiếc là đã không có Tiến sĩ Mai Thanh Truyết và Tiến sĩ Lê Minh Nguyên ở Oarnge Couty và Tiến sĩ Phan Văn Song ở Pháp. Trong phần giới thiệu quan khách, hội trường đặc biệt nghe sự có mặt của phái đoàn của các đảng phái chánh trị gồm đảng Tân Ðại Việt, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt Cách Mạng Ðảng, Liên Minh Dân Chủ Việt Nam và đông đảo thành viên trong Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy, thành viên của Liên Ðoàn Cử Tri người Việt Bắc California...; trước khi giới thiệu thành phần Chủ tọa đoàn gồm cựu Luật sư Trần Minh Nhựt, nhà văn Hải Triều, Thiếu tá Hoàng Ðình Khuê và Giáo sư Trần Minh Xuân; cùng Thư ký đoàn gồm Dược sĩ Lưu Phương và 2 sinh viên Trần Hoàng Yến và Trần Hoàng Anh [Hình: Luật sư Trần Minh Nhựt và Thư ký đoàn]

 

Trong phần ra mắt sách, nhà văn quân đội Hải Triều, một thành viên của Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy, cũng là thành viên lãnh đạo của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam, đã tâm sự về việc hình thành 2 tác phẩm mới in của ông là Mùa Xuân Ðen và Chụp Mũ. "Mùa Xuân Ðen" là một tập truyện viết từ những sự thật, cảnh thật, người thật, nạn nhân thật được pha một chút uất hận, một chút đắng cay, một chút chịu đựng, một chút bất cần, một chút khôi hài... trong cảnh cả nước cùng đường khi những người cộng sản lộ nguyên hình là những tên Thái thú của thời Bắc thuộc mới, trong đại họa giặc Tàu... Ðến tác phẩm "Chụp Mũ" tác giả đã không ngại đụng chạm, không sợ mích lòng, khi nói về những "chụp mũ, bịa đặt, ác độc" của những tên dấu mặt trong bóng tối lẫn những kẻ có tên ngoài ánh sáng... nhắm vào Hải Triều. Tất cả đã được khai quật, phân tích... để độc giả hiểu rõ tại sao có quá nhiều kẻ thù từ hàng ngũ những người hay nhóm gọi là "quốc gia". Theo tác giả đây là giải pháp tác giả chọn lựa, không chỉ là phương cách tự mình giải oan, mà nó còn giúp cho đời hiểu ra, nhận ra những chiếc mặt nạ của những người mặc áo quốc gia thò tay ra tàn hại anh em, tàn hại cuộc đấu tranh chống tà quyền Hà Nội... bằng những tài liệu thật, bằng chứng thật... Với tác giả đây là nổ lực chấm dứt nạn chụp mũ trong các cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại khi đại họa giặc Tàu lúc nào cũng là đại họa mọi người cần phải dồn mọi nổ lực truy diệt.


Kế tiếp, Giáo sư Trần Anh Tuấn, Chủ tịch Hồi đồng Quản trị East Bay Vietnamese Association, Chủ biên Chuyên san Dòng Sử Việt, cựu Giáo sư trường Ðại học Văn khoa Sài Gòn, nhận xét tác phẩm vừa mới xuất bản của các Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Tiến sĩ Phan Văn Song và Giáo sư Trần Minh Xuân có tên là "Từ Bauxite Ðến Uranium: Tiến Trình Ðô Hộ Việt Nam Của Trung Cộng". Giáo sư Tuấn đã tuần tự nhận xét từng bài viết của từng tác giả góp mặt trong tác phẩm.

 

Với Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, tác giả của 14 bài trong tuyển tập, vốn là chuyên viên hóa học, tác gỉa đã có những kiến giải rành rẽ và rất thuyết phục về môi trường, nói đúng ra là những sự hủy hoại môi trường, của Trung Quốc khiến những bài viết về những tác hại của việc khai thác bauxite của Trung Quốc ở Việt Nam đã làm người đọc xót xa cho vận nước và ngán ngẩm trước sự yếu hèn của chính quyền Việt Nam đương thời. Chủ nghĩa cực đoan Ðại Hán của người Tầu nhằm khống chế các quốc gia lân bang, nhất là Việt Nam, cũng được ông mổ xẻ. Tuy nhiên, có những con số cần được tác gỉa giải thích để những độc gỉa không có kiến thức chuyên môn về kinh tế tài chánh hiểu điều tác gỉa muốn trình bầy.

 

Với Giáo sư Trần Minh Xuân, theo Giáo sư Tuấn tất cả 14 bài viết đều chứa đựng chi tiết, dữ kiện, thống kê, bản đồ và hình ảnh thời sự một cách phong phú. Ông đã nói nguyên văn: "Hãy nhớ rằng thời sự hôm nay là lịch sử ngày mai để chúng ta cần gửi đến ông một lời cám ơn. Cám ơn ông đã lưu giữ những chuyện đang xảy ra làm dữ liệu cho lịch sử phán xét công tội của một cá nhân hay một tập đoàn hay một chính quyền". Giáo sư Tuấn cũng nói thêm: "Giáo sư Trần Minh Xuân cũng còn có công nhắc nhở và giới thiệu những tư tưởng chính trị của cố Gs. Nguyễn Văn Bông và cố Gs. Nguyễn Ngọc Huy mà những sự kiện thực tế ngày nay đã chúng minh giá trị viễn kiến của những chính khách này, vốn dấn thân vào chính trường với lý tưởng cao đẹp vì dân vì nước". Qua phần trình bày của mình, Giáo sư Tuấn cho biết: "Một trong những bài viết của Ông Giáo Gìa Trần Minh Xuân mà tôi thấy hứng thú là bài ông viết về 'Dân Oan Thích Nhất Hạnh' (trang 44-454) kể chuyện tu viện Bát Nhã ở Việt Nam thuộc pháp môn Làng Mai của sư ông Nhất Hạnh bị xua đuổi khỏi chùa cho thấy chính quyền Cộng Sản Việt Nam, sau khi lợi dụng xong chút tiếng tăm quốc tế của nhà sư này để chứng minh Việt Nam có tự do tôn giáo, đã thẳng thừng vứt bỏ cái vỏ chanh đã hết nước... Giáo sư Trần Minh Xuân đã viết một cách cẩn thận, nói có sách mách có chứng. Bài viết của ông thường chứa đựng lời nói hay hình ảnh của các nhân vật chính trị, văn hoá, giáo dục, xã hội, của giới trí thức hay của chính những lãnh tụ Cộng Sản tại Việt Nam khiến giá trị tài liệu được chính xác và tiện dụng..."

 

Ðến phần Tiến sĩ Phan Văn Song, Giáo sư Tuấn nói: "Tiến sĩ Phan Văn Song đã rất cụ thể khi lên tiếng báo động sự nguy hiểm trong việc làm ăn với Trung Quốc. Làm ăn với Trung Quốc thì có nguy cơ bị Công An Trung Quốc bắt giam bất cứ lúc nào. Ðiều đáng nói là tác gỉa Phan Văn Song đề cập đến chuyện văn hoá Jarai bị hủy hoại, sắc tộc Jarai bị áp bức, và đất đai Jarai bị tịch thu. Tôi tự hỏi phải chăng chỉ có sắc tộc Jarai là bị những tại họa do chính quyền Cộng Sản đem lại thôi sao? Còn các sắc tộc khác, những Ba Na, Stieng, Rong gao, Xê Ðăng, Mnông... thì sao, không thấy quyển sách này đề cập đến gì cả. Tại sao lại chỉ Jarai?"

 

Ðến phần "Phụ Lục" Giáo sư Tuấn nói: "...Qúy vị không nên cho đăng bức thư của Tổ Chức Văn Hóa và Nghệ Thuật Champa Quốc Tế có trụ sở ở Ontario, Canada nơi trang 524. Lý do là vì trong thư này, người Chủ Tịch của Tổ Chức Văn Hóa và Nghệ Thuật Champa Quốc Tế gốc Chàm đã nhân danh toàn thể các sắc tộc ở vùng cao nguyên Trung Phần, điều mà các sắc tộc khác như Bà Na, Rông gao, Xê Ðăng, Jarai... đã và đang phản đối trong nhiều năm qua".

 

Sau cùng, có điều khiến Giáo sư Tuấn không được hài lòng là "Ba tác gỉa có ba khuynh hướng và nội dung, tuy cùng bừng bừng tình yêu quê cha đất tổ, nhưng khác nhau rõ rệt, thành ra việc sắp xếp lần lượt từng ông một một cách từ tốn và rất lịch sự đã vô tình xé lẻ bài các ông thành từng mảng từng đoạn, chỉ làm người đọc khó theo dõi!..."

 

Giáo sư Tuấn vừa dứt lời thì MC Ðào Trung Chính lên tiếng: "Xin thành thật cáo lỗi cùng quý vị về trường hợp Tiến sĩ Mai Thanh Truyết đã không đến được theo chương trình đã ghi vì ngày Thứ Ba vừa qua ông email cho biết bất ngờ vì công vụ ông phải đi Las Vegas tham dự một hội nghị môi trường từ Thứ Năm nầy đến Thứ Bảy. Do đó, phần thuyết trình của ông được người cùng viết chung sách về "Ðại Họa Giặc Tàu" với ông lo giúp. Ðó là Giáo sư Trần Minh Xuân. Giáo sư Trần Minh Xuân cũng là thành viên của Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy. Ngoài tên thật và bút hiệu Huy Phong, ông được nhiều người biết đến dưới bút danh Giáo Già, người trách nhiệm cột báo "Thư Cho Con" hằng tuần trên Tuần báo Tiếng Dân, tác giả của 13 cuốn Thư Cho Con đã xuất bản..."

 

Bước lên sân khấu Giáo sư Trần Minh Xuân một lần nữa xin lỗi về sự vắng mặt của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết và cũng ngỏ lời xin lỗi về sự vắng mặt bất khả kháng của Tiến sĩ Phan Văn Song khi ông này phải rời California về Pháp trước ngày hội luận. Sau đó, Giáo sư Trần Minh Xuân nói thẳng vào nội dung tác phẩm nhằm trình bày đại họa giặc Tàu đang đô hội Việt Nam. Ông đọc nguyên văn lời Mao Trạch Ðông đã khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị ban chấp hành trung ương Ðảng cộng sản Tàu hồi tháng 8 năm 1965 rằng: "Chúng ta phải giành cho được Ðông nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Ðiện, Malayxia và Singapo..." [trich Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua]. Ðiều này cho thấy Mao Trạch Ðông đã coi Miền Bắc Việt Nam đã là lãnh thổ của Tàu không cần giành như giành các phần lãnh thổ khác trên tiến trình "giành cho được Ðông nam châu Á". Còn nhớ, khi Mao Trạch Ðông chiếm trọn Hoa lục năm 1949, thì năm sau [1950] Hồ Chí Minh sang Tàu cầu viện để quân Tàu tràn qua biên giới chiến đấu trong các chiến dịch đánh Pháp quan trọng; đến khi trận Ðiện Biên Phủ kết thúc Tàu bắt tay Pháp chiếm một nửa nước Việt Nam nằm về phía Bắc vĩ tuyến thư 17. Ðến năm 1974, Tàu xua quân tiến chiếm Hoàng Sa của VIỆT NAM CỘNG HÒA; và khi Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, Tàu coi như giành được Miền Nam Việt Nam. Nhưng Lê Duẩn và đồng bọn lãnh đạo Cộng sản Việt Nam ngã theo Liên Sô, khiến Ðặng Tiểu Bình xua quân "dạy Cộng sản Việt Nam bài học" bằng cuộc chiến biên giới năm 1979; khiến Bộ Chánh trị phải sửa Hiến pháp ghi Tàu là kẻ thù của dân tộc. Nhưng 10 năm sau, trong cơn cùng kiệt của Xã hội Chủ nghĩa; tháng Chín năm 1989 Tổng Bí Thư CSVN Nguyễn Văn Linh phải dẫn Ðỗ Mười và Phạm Văn Ðồng sang Thành Ðô xin Trung Quốc viện trợ. Rồi năm 1991 Lê Ðức Anh, Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt lại sang Trung Quốc xin ủng hô; và cứ thế tiếp tục qua thời Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh... coi như cả đất nước Việt Nam hoàn toàn nằm trong tay Tàu cộng. Ðể sau đó Hiến Pháp lại được sửa để Tàu không còn là kẻ thù của Việt Nam. Nhìn vào đó, có người cho là Việt Nam có nguy cơ bị Tàu đô hộ. Thật sự đó không là cơ nguy mà là ÐẠI HỌA, và cái đại họa lần này trầm trọng hơn những lần Bắc thuộc trước, vì Tàu đã đô hộ Việt Nam bằng viễn khiển mà nói theo tiếng "hiện đại" là "remote control" bọn Thái thú CSVN đang cầm quyền dưới nhãn hiệu của 4 tốt và 16 chữ vàng.

 

Trong đại họa giặc Tàu lần này chúng cũng tiến hành việc đồng hóa Việt Nam, bóc lột tài nguyên của Việt Nam, triệt tiêu mọi khả năng chống đối của trí thức bằng tiêu diệt văn hóa Việt như các lần Bắc thuộc trước, như là thời Nhà Minh đô hộ Ðại Việt. Nó khiến diễn giả nhớ lại câu hát thuở thiếu thời khi học Sử Việt nói về các thời Bắc thuộc và nhớ lại những lần bị người Tàu Chợ Lớn làm hảng giả lừa gạt. Ông vui miệng đọc lại câu hát đó: "Các Chú Ba Tàu Thằng Nào Cũng Như Thằng Nấy". Ngay sau đó, ông ngỏ lời xin lỗi những người Tàu "tốt". Ông không có ý muốn vơ đũa cả nắm khi nói về những người Tàu "tốt" trong đám giặc Tàu. Ông cho biết thêm là trong bao nhiêu lần bị giặc Tàu cũng như giặc Pháp đô hộ, và bị giặc Cộng cai trị bao nhiêu năm nay, dân tộc Việt Nam vẫn vượt qua mọi gian khổ và vẫn trường tồn nhờ Bản Năng Sinh Tồn Của Dân Tộc. Giờ đây, cùng tìm hướng giải quyết đại họa giặc Tàu lần này ông giới thiệu Thiếu tá Hoàng Ðình Khuê, cựu sĩ quan Ðài Lạt khóa 16, Bí thư Khu ủy Tây Hoa Kỳ Ðảng Tân Ðại Việt trình bày Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn qua tác phẩm vừa được tái bản của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy.

 

Trong phần trình bày của mình Thiếu tá Khuê đã vắn tắt nói về sự cần thiết của một chủ nghĩa chánh trị hợp lý trong cuộc đấu tranh cho độc lập tự do, cho một nền dân chủ pháp trị, mà ở đây là Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn được cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy diễn giải từ chủ thuyết Dân Tộc Sinh Tồn của đảng trưởng Ðảng Ðại Việt Trương Tử Anh mà ông và cụ Hà Thúc Ký say mê khi còn trẻ trước khi gia nhập đảng Ðại Việt. Diễn giả đã đặc biệt nhấn mạnh đến "Luật Tranh Ðấu" là điều kiện cốt yếu cho sự sinh tồn của con người, theo đó "luật sức mạnh" và "luật biến cải" rất đáng lưu ý. Diễn giả than phiền thời gian dành cho diễn giả quá ngắn để trình bày các tinh túy của Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn được cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy diễn giải qua tác phẩm dày non 900 trang, nên tác chỉ nói được phần đại lược và hẹn sẽ cùng nhau thảo luận trong phần hội luận.

 

Bước sang phần hội luận và góp ý của các tổ chức chánh trị và quan khách hiện diện, người dẫn chương trình đã dành ưu tiên cho cho thế hệ trưởng thành và thành danh ở hải ngoại, những người không mang chút hận thù Cộng sản, nhưng hết sức phẫn nộ hành động bá quyền của Trung Cộng và sự khiếp nhược của đám Thái Thú đang cai trị quê nhà. Tuy phẫn nộ độc đảng độc tài Cộng sản Việt Nam, nhưng người thay mặt cho thành phần trẻ này là Bùi Sơn, một thành viên của Liên Ðoàn Cử Tri Người Việt Bắc California, một tổ chức được ra đời từ ý thức chánh trị của thành phần trưởng thành ở hải ngoại biết tận dụng vốn liếng quý giá của người Việt trong sinh hoạt chánh trị của dòng chánh là lá phiếu của cử tri trong các cuộc bầu cử, rất điềm đạm khi lên tiếng nói về thảm họa dân Việt bị ảnh hưởng cả ngàn năm bị Tàu đô hộ; và sự quật khởi của dân tộc Việt, của anh hùng Trần Hưng Ðạo. Bùi Sơn rất thán phục sự hào hùng trong Bình Ngô Ðại Cáo. Anh cũng thán phục Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn và nhận thấy mình và Liên Ðoàn Cử Tri có trách nhiệm trong việc đấu tranh chống nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, đấu tranh cho tự do dân chủ, đấu tranh giải quyết Ðại họa giặc Tàu lần này.

 

Tiếp theo người bạn trẻ Bùi Sơn, người đại diện cho lớp trung niên là nhà báo Huỳnh Lương Thiện, Chủ nhiệm báo Mõ San Francisco, đã nhắc lại những kinh nghiệm mà ông đã từng trải trong thời gian du học ở Nhựt cùng với sự hiểu biết của ông về sự sinh tồn của dân tộc Việt. Ông ca ngợi Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, ca ngợi cuộc đấu tranh từng ngày của dân tộc Việt cho tự do và công lý ở Việt Nam.

 

Sau đó, kỹ sư Nguyễn Tấn Thọ, ủy viên trung ương đảng Ðại Việt Cách Mạng Ðảng lên tiếng trình bày thêm một số tinh túy của Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, nhắc đến cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, và nêu câu hỏi tại sao chúng ta không noi theo đó mà đấu tranh chống đại họa giặc Tàu, đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.

 

Kế tiếp, ông Quốc Phùng, ủy viên tuyên huấn trong ban lãnh đạo đảng Tân Ðại Việt được mời phát biểu. Cũng như các diễn giả trước, những điều được ông trình bày đều xoay quanh Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn được cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy diễn giải; đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh tuyên huấn rất cần thiết cho việc đấu tranh chung.

 

Buổi hội luận dân chủ kết thúc với bản Tuyên Cáo do cựu Luật sư Trần Minh Nhựt tuyên đọc [đính kèm] với sự đồng thuận của cả hội trường vào lúc 5 giờ chiều cùng ngày.

 

Hẹn con thư sau,

Giáo Già

 

//////////////////////////////////////////////////