Ô Nhiễm Dược Phẩm

 

Ô Nhiễm Dược Phẩm

TS Mai Thanh Truyết

Bạn có biết Cơ quan Lạm dụng Thuốc men & Sức khỏe Tinh thần (Substance Abuse & Mentah Health Services) thuộc Bộ Y tế & Nhân dụng Hoa Kỳ đã khuyến cáo người dân đem tất cả các loại thuốc (dược phẩm) quá thời hạn, hay không còn dùng nữa trộn lẫn vào các túi phân mèo (kitty litter) trước khi cho vào thùng rác.

 Khuyến cáo nầy đã làm trò cười cho nhiều người, ngay cả những nhà làm khoa học…Nhưng trên thực tế, đó là một trong những phương pháp hữu hiệu hiện nay để giải quyết vấn để ô nhiễm dược phẩm hiện tại. Mục tiêu của việc trộn lẫn dược phẩm trong phân mèo, hay xác cà phê sau khi lọc xong, hay mạt cưa là để tránh cho các dược phẩm nầy không đến tay những người có thể lạm dụng chúng được.

 Vì tính quan trọng của vấn đề, nhiều câu hỏi được đặt ra sau đây:

-          Dược phẩm đã đi vào môi trường như thế nào? Và với số lượng bao nhiêu?

-          Dược phẩm ảnh hưởng lên môi trường như thế nào?

-          Chuyện gì sẽ xảy ra đối với những dược phông không còn dùng nữa?

-          Con người có đủ hiểu biết để thải hồi dược phẩm hay không? Và thải hồi đi đâu?

-          Nạn nhân đầu tiên của việc ô nhiễm dược phẩm là ai?

 Theo thống kê hàng năm, chỉ nội một việc đổ bỏ dược phẩm của những người chết trong bịnh viện đã phóng thích 19,7 tấn vào hệ thống cống rãnh Hoa Kỳ. Các loại dược phẩm làm ô nhiễm môi trường gồm: thuốc trụ sinh-kháng sinh, thuốc chống trầm cảm, thuốc kiểm soát sinh sản, và đủ mọi loại thuốc khác. Cho đến nay, các nhà khoa học đều đồng ý là hàm lượng dược phẩm trong môi trường nước uống còn quá thấp để có thể gây di hại cho con người và thú vật. Nhưng một câu hỏi khác được đặt ra là, định mức "thấp" đã dựa theo tiêu chuẩn nào và đã có chứng nghiệm chưa? Và câu trả lời là chưa.

Một khi một hỗn hợp dược phẩm đã được trộn lẫn vào nhau, mức ảnh hưởng hay sự độc hại không nằm trong các dược phẩm nguyên thuỷ mà còn nằm trong các phản ứng giữa chúng với nhau và các thành phẩm bị tách ra trong phản ứng. Những hoá chất nầy hòan toàn chưa được biết đến và kiểm soát.

Vì vậy, phế thải dược phẩm hiện nay vẫn là một câu hỏi lớn cho những nhà làm khoa học và môi sinh.

 

Sự ô nhiễm dược phẩm

Có thể nói việc thải hồi không đúng cách của các dược phẩm không còn dùng nữa là nhân tố lớn nhất cho vấn đề ô nhiễm dược phẩm. Theo thống kê của Cơ quan Thăm dò Địa chất Hoa Kỳ (US Geological Survey), trên 139 nguồn nước đã được nghiên cứu, 80% nguồn nước đều có chứa những vi lượng của rất nhiều dược phẩm, trong đó hơn phân nửa chứa trên 7 hoá chất khác nhau, và có nguồn chứa 38 hoá chất. Ảnh hưởng lên con người của các vi lượng nầy hòan toàn chưa được biết đến. Vài nghiên cứu chứng minh mốt số ảnh hưởng tiêu cực lên một vài sinh vật trong thiên nhiên như cá chẳng hạn.   

Nạn nhân đầu tiên của sự ô nhiễm dược phẩm là phải kể đến tôm cá và những thực động vật sống trong cả nước ngọt lẫn nước biển. Không ai nghĩ đến cũng như lên kế hoạch "ngừa thai" cho cá, nhưng trên thực tế cá đã bị ngừa thai qua đường nước cống chảy vào song rạch và đổ ra biển. Một loại oestrogen tổng hợp thuốc ngừa thai như 17alpha-ethinylestr adiol đã làm cho một số cá đực (trống) (cá hương (trout) và cá fathead minnow) không còn khả năng truyền giống của giống đực nữa, mà đã biến thành giống cái (feminize) nhưng không có khả năng sinh sản qua các cuộc nghiên cứu của TS John Sumpter, Anh vào những năm 90. Thuốc an thần như Prozac cũng đã làm giảm khả năng tăng trưởng của cá và ếch nhái. Nhà khoa học còn e sợ rằng các thuốc trụ sinh trị liệu cho qia súc sẽ làm tăng tính kháng sinh của vi khuẩn, do đó mức trị liệu sẽ phải tăng thêm nồng độ hay phải thay đổi dược phẩm khác. Nước thải qua việc chăn nuôi gia súc ở Hoa Kỳ hàng năm thải hồi vào môi trường 500 triệu tấn gồm thuốc trụ sinh, các hormones tổng hợp và những loại hoá chất dành riêng cho súc vật

 Mỗi loại thuốc có một đời sống riêng và có mục đích trị liệu một số bịnh để làm tăng phẩm chất của cuộc sống con người. Nhưng chính nó, cũng là một độc tố trong một chừng mực nào đó do hệ quả (side effects) của nó để lại và ảnh hưởng lên con người. Và dược phẩm không ngừng ở đó sau khi con người hay thú vật uống vào. Chúng đã được thải hồi qua đường tiểu tiện, rồi qua hệ thống xử lý nước thải, qua đường nước mưa và nước tưới nông nghiệp. Còn các dược phẩm dưới dạng rắn qua nhưng phân súc vật chăn nuôi. Và đa số dược phẩm gia đình thường được đổ bỏ qua đường toilet và chúng sẽ vào hệ thống cống nước sinh hoạt gia đình…

Con người đã sản xuất hàng ngàn, hàng chục ngàn sản phẩm với mưu cầu kéo dài đời sống, mang lại phẩm chất sống tối ưu, nhưng hoàn toàn chưa khống chế cũng như hiểu biết được của các dược phẩm trên ở ngoài môi trường. Chúng ta chưa hiểu tường tận tính chất của dược phẩm, chính những hoá chất nầy hiện đang là một thách thức lớn cho con người.

Dược phẩm là hóa chất. Một khi đi vào môi trường, qua các phản ứng hoá học giữa chúng với nhau, qua các phản ứng sinh huỷ (bio-degradation) v.v… chúng trở thành một hoá chất khác, có thể có tính độc hại cao hơn và đời sống bán huỷ dài hơn, nghĩa là tồn tại trong môi trường lâu hơn, và dĩ nhiên gây di hại nhiều hơn.

Hiện tại chưa có nhà khoa học nào có thể ước tính được những hệ luỵ vừa kể trên của các dược phẩm sau khi đi vào môi trường.

 Nguồn phát thải ô nhiễm dược phẩm

Dược phẩm hết hạn, hay không còn dùng nữa đã đi vào môi trường qua nhiều ngả khác nhau mà con người là nguyên nhân của việc tạo ra nguồn ô nhiễm trên. Trên thực tế và cũng qua sự bất lưu tâm của con người, dược phẩm không đươc xem như là chất làm phương hại đến môi trường theo cung cách suy nghĩ thường tình. Ngay cả đối với những nhà máy sản xuất dược phẩm vẫn chưa đặt trọng tâm đúng mức cho việc bảo vệ môi trường trong việc nghiên cứu và sản xuất dược phẩm.

Tiến trình sản xuất và tinh chế một dược phẩm đòi hỏi một lượng rất lớn nước cho nhu cầu trên, và phế thải lỏng có chứa dược phẩm nầy  và các phó sản đa phần đi thẳng vào hệ thống cống rãnh.

Dược phẩm một khi được trộn lẫn với nhau sẽ phản ứng hổ tương theo phản ứng hoặc oxid - khử hoá, hoặc  thuỷ phân để biến thành các hoá chất trung gian. Các hoá chất sau nầy trong giai đoạn hai sẽ bị sulphat hoá hay amino hoá để tạo thành một số hoá chất khác mà mức độc hại hoàn toàn không được biết đến.

 Các nguồn phế thải dược phẩm được đan kể như sau:

-          Nhà máy xử lý hệ thống cống rảnh: Các nhà máy nầy xử lý cơ học, hoá học, đôi khi xử lý sinh học, nhưng vẫn lhông thể nào loại tất cà dược phẩm có trong nguồn nước nầy;

-          Bải rác: dược phẩm xâm nhập vào bãi rác qua nguồn rác sinh hoạt gia đình do con người phát thải ra. Bùn (sludge) phát sinh do việc xử lý nước cống rảnh cũng là nguồn ô nhiễm dược phẩm trong các bãi rác;

-          Nguồn nước uống: Nguồn nước rỉ từ bãi rác, cũng như nước xử lý dùng để tưới tiêu mang dược phẩm còn tồn đọng sẽ thấm vào mạch nước ngầm qua hiện tượng thấm sâu (percolation) ; do đó, sẽ làm ô nhiễm nguồn nước uống cho con người;

-          Gia súc chăn nuôi: Trong quá trình chăn nuôi hiện đại, thức ăn gia súc thường được pha trộn hormone tăng trưởng. thuốc kháng sinh, và một số dược phẩm khác cho nhiều mục tiêu chăn nuôi khác nhau. Từ đó, nước tiểu và phân súc vật cũng là nguồn ô nhiểm dược phẩm không kém quan trọng.

 Theo thống kê ở vùng San Francisco, 45% dược phẩm không dùng nữa hay đã hết hạn được phát thải qua đường toilet, và 28% đi vào bãi rác. Hàng năm Hoa Kỳ tiêu thụ 235 triệu liều thuốc trụ sinh, và gia súc chăn nuôi (bò và gà) gậm nhấm 21 triệu cân Anh trong năm 2004.

 

Ảnh hưởng lên đời sống con người

Vài nghiên cứu riêng rẽ hiện nay đưa ra một số suy nghĩ về ô nhiễm dược phẩm ảnh hưởng lên con người. Con số nầy tuy nhỏ nhưng đã nói lên tầm quan tâm của những nhà làm khoa học hiện đại. Sự hiện diện của một dung lượng thật nhỏ của hoá chất thalidomide trong nguồn nước uống có thể ảnh hưởng lên thai nhi trong bụng mẹ. Daughton, một nhà độc tố học phát biểu như sau:"dù dưới một dung lượng thật nhỏ, các dược phẩm (hoá chất) dù là tổng hợp hay thiên nhiên cũng ảnh hưởng ít nhiều lên cơ thể con người".

 Bạn phải làm gì với nguồn dược phẩm không dùng nữa trong nhà?

Một phần chương trình trong kế hoạch "Dược phẩm Xanh" (Green Pharmacy) là  giải quyết các nguồn trên dưới danh nghĩa "dược phẩm và sản phẩm dùng cho (vệ sinh) cá nhân (pharmaceuticals and personal care products (ppcps)). Sự ô nhiễm của ppcps rất phức tạp dưới nhiều dạng khác nhau qua phản ứng hoá học, độc tố học, y khoa, chính sách công cộng ở từng địa phương, cùng cung cách ứng xử của con người. Các dược phẩm thông thường ảnh hưởng đến hệ sinh thái là: hormones, thuốc trụ sinh-kháng sinh, các loại thuốc điều hoà mở trong máu, dược phẩm chống nhiễm (anti-inflammatory drugs), dược phẩm dưới dạng beta-blockers, thuốc an thần, các loại dược phẩm ảnh hưởng lên sự chuyển đổi di truyền, và dược phẩm cường dương như Viagra..

 Vì vậy, trước nguy cơ trên, mỗi người trong chúng ta phải ý thức và hành động để có thể hạn chế được nguy cơ trên.

Nếu bạn mở tủ thuốc gia đình ra, bạn sẽ thấy trung bình một người sống tại Hoa Kỳ có 11 toa kê thuốc trong năm 2006, theo thống kê của Kaiser Foundation, tức 3,3 tỷ toa thuốc cho năm nầy. Đó là chưa kể số thuốc được mua tại quầy hàng không cần toa bác sĩ. Kể từ bây giờ cho đến khi có phương cách chính thức của USEPA và FDA, bạn cần giải quyết các dược phẩm không dùng nữa như sau:

-          Nhắc nhở mọi người chấm dứt việc đổ dược phẩm vào toilet;

-          Dược phẩm không dùng cần trộn lẫn với xác cà phê hay hổn hợp phế thải của mèo để tránh kẻ gian dùng lại rất nguy hiểm;

-          Dược phẩm ở dạng rắn cần được mang đến một địa diểm chỉ định qua chương trình thu hồi lại (take back program) ở địa phương. Phế thải nầy sẽ được đem đi thiêu đốt (incineration) . Tiểu bang IllinoisIndiana đã thực hiện chương trình nầy và có cả hệ thống giáo dục cho người dân hiểu rõ thêm mức tác hại của sự ô nhiễm dược phẩm. Nếu cần có thêm chi tiết, bạn vào www.teleosis. org để biết thêm về chương trình nầy. Tại San Francisco, đã có 13 địa điểm cho chương trình nầy, và chỉ tiêu tốn $4,000 hàng  năm cho mỗi địa điểm.

 

Qua một vài cử chỉ trên, chúng ta đã thể hiện một hành động tích cực cho Dược phẩm xanh cũng như tạo ra những nhân tố mới cho việc đề phòng, và chữa trị ứng hợp với chiều hướng toàn cầu hoá và bảo vệ môi trường bền vững.

Hóa chất trong Thực phẩm

Hóa chất trong Thực Phẩm

 

 

Việt Nam hiện đang phải đối mặt với tình trạng môi trường ô nhiễm trầm trọng. Từ không khí, đất đai và trầm tích, nguồn nước mặt và nước ngầm, cho đến nguồn thức ăn, nhu cầu cần thiết hàng ngày của người dân cũng đang là một thãm nạn cho mọi người. Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm, rau cải và "đồ hàng bông", và trái cây là một vấn nạn lớn đang xảy ra ở khắp nơi trên toàn cõi đất nước là một hiện thực. Theo báo cáo của WHO, có 35% số nạn nhân thế giới mắc bịnh ung thư lien quan đến yếu tố thực phẩm và cung cách ăn uống thường ngày.

 

Mặc dù có nhiều chính sách an toàn thực phẩm của Việt Nam đề xướng như "Dự thảo số 5: Kế hoạch hành động quốc gia bảo đảm Vệ sinh An toàn Thực phẩm đến năn 2010", trong 8 năm từ 1997 đến 2004, toàn quốc có 6.467.448 trướng hợp mắc các bịnh nhiễm trùng qua thực phẩm, trong đó có 194 trường hợp tử vong. Đặc biệt trong vài ba năm trở lại, tại VN, các bịnh ung thư về đường tiêu hóa như ung thư ruột già (trực tràng) gia tăng một cách rõ rệt, nằm trong nhóm 5 bịnh ung thư cao nhứt nước. Tại bịnh viện ung thư Bướ Sài Gòn, năm 2006 có 2.637 bịnh nhân, nhưng đến năm 2008, tăng lên 3.066. Cho đến hôm nay, cũng ở bịnh viện nầy hàng ngày có hàng trăm bịnh nhân điều trị nội trú hay ngoại trú.

 

Trong một số bài viết trước đây trên maithanhtruyet.blogspot.com, người viết đã nêu một số hóa chất xử dụng trong thực phẩm nguyên thủy hay chế biến, bài viết nầy có mục đích chuyển tải và phổ biến thêm những thông tin về vấn nạn trên để mỗi người trong chúng ta lưu ý và cẩn trọng hơn trong sinh hoạt ăn uống hàng ngày, đặc biệt trong các dịp lễ lạc hay Tết nhứt.

 

Sự hiện diện của hóa chất trong thực phẩm tiêu dùng của người dân ở VN quả thật đã đến độ nghiêm trọng và đã diễn ra từ hàng chục năm nay rồi. Có 2 nguyên nhân chính cho tình trạng nầy: nguyên nhân khách quan và chủ quan. Nguyên nhân khách quan là do môi trường chung bị ô nhiễm, do đó ảnh hưởng đến cây trồng và súc vật. Và nguyên nhân chủ quan là do con người, trong quá trình sản xuất sản phẩm đã thêm hóa chất vào trong thực phẩm với trọng tâm mang đến lợi nhuận cao nhất mà không lưu tâm đến những di hại cho sức khỏe của người tiêu dùng.

 

Các hóa chất thường xử dụng trong thực phẩm

 

1-    Borax hay hàn the

 

Borax còn gọi là hàn the. Đó là tên thương mãi của hóa chất sodium tetra borate decahydrate, có công thức là Na2B4O7,10 H2O. Borax là một loại bột trắng dễ hòa tan trong nước. Khi tiếp xúc với nước ngoài tính hòa tan, chất nầy còn hút nước hay gọi là ngậm nước để được bảo hòa với 12 phân tử nước. Chính vì tính chất sau cùng nầy mà hóa chất trên được ứng dụng nhiều trong kỹ nghệ thực phẩm. Đây cũng là một hóa chất có tính khử trùng và trừ sâu rầy nhẹ. Trong kỹ nghệ bột giặt, borax được dùng như một chất phụ gia để chống ẩm và không biến bột giặt đóng cụt theo thời gian vì độ ẩm cao trong không khí. Borax còn được dùng để khử nước "cứng" vì chứa nhiều calcium carbonate (vôi).

 

Vì đây là một loại thuốc sát trùng nhẹ cho nên tính độc hại của nó cũng ảnh hưởng lên con người. Khi tiếp xúc với borax qua đường thực quản, cơ thể sẽ cảm thấy khó chịu như bị dị ứng và có thể đưa đến tử vong khi hấp thụ một liều lượng lớn. Qua đường khí quản, da hoặc mắt, cơ thể cũng có phản ứng tương tự nhưng nhẹ hơn.

 

Tùy theo liều lượng của borax xâm nhập vào người, phản ứng cấp tính của cơ thể diễn tiến như sau từ nhẹ đến nặng: nhức đầu – cơ thể bải quải – mạch tim đập nhanh – áp suất máu giảm – có thể bị phong giựt (seizure) và đi đến bất tỉnh.

Qua tiếp nhiễm dài hạn, con người có cảm giác bị trầm cảm (depression), và đối với phụ nữ có thể bị sinh ra hiếm muộn vì hóa chất nầy sẽ làm giảm thiểu thời kỳ rụng trứng.

 

Chính nhờ tính ngậm nước và khử trùng của borax mà còn người đã lợi dụng trong nhiều dịch vụ không chính đáng. Trong giai đoạn sau 1975, kỹ nghệ làm xà bông cây và kem đánh răng đã xử dụng borax để tăng độ cứng của xà bông và vì hấp thụ thêm nước cho nên cân lượng của xà bông nặng hơn nhưng độ sủi bọt và độ tẩy rửa rất kém so với trọng lượng. Trong kỹ nghệ kem đánh răng cũng thế, borax làm kem không bị "chảy nước" và nhờ đó có thể thêm vào nhiều vôi và magnesium vào để tăng trọng lượng của kem mà không có tác dụng gì đến việc làm sạch răng; đôi khi còn làm lở nướu răng nữa vì hàm lượng vôi cao..

 

Đối với kỹ nghệ thực phẩm hiện tại, nhiều loại bánh tránh, bánh phở, hủ tiếu được cho thêm borax để được dai, cứng, lâu thiu hơn. Còn các loại chả lụa, chả quế cũng được tăng thêm độ dòn, chống được mốc meo và lâu thiu cũng nhờ borax. Đối với các loại thực phẩm tươi như thịt cá để lâu ngày đã biến dạng, nếu có thêm borax, chúng trở nên nên cứng và có vẻ tươi trở lại. Đại khái trên đây là những ứng dụng không lành mạnh của borax mà con buôn dùng các thủ thuật nầy trong thực phẩm để làm sai lạc và đánh lầm thị hiếu của người mua.

 

Tóm lại, các loại thực phẩm sau đây thường có chứa borax trong quá trình pha chế như: bún, bánh phở, bún miến, bánh tráng.

 

2-    Sulfite

 

Đây là một loại hóa chất thuộc nhóm sulfur có thể xâm nhập vào thực phẩm tự nhiên trong môi trường hay được thêm vào thực phẩm để bảo quản hay làm tăng hương vị đặc biệt của thực phẩm. Theo FDA, 1% người tiêu dùng bị hóa chất nầy ảnh hưởng và làm dị ứng từ trạng thái nhẹ hoặc có thể đi đến tử vong. Hoa Kỳ đã cấm dùng sulfite từ năm 1986 trong việc bảo quản các loại cải sà lách và trái táo (apple) cũng như cấm sự hiện diện của hóa chất trong các loại thực phẩm tươi. Tuy nhiên, đối với thực phẩm được nấu chín hay đã chế biến, FDA vẫn cho phép xử dụng hóa chất trên với liều lượng hạn chế tùy theo loại thực phẩm.

 

Tại Hoa Kỳ, sulfite có mặt trong các loại thực phẩm sau đây: các loại bánh nướng (cookies), soup, thịc jambon, rau cải hay đậu hộp, dưa chua (pickled), trái cây khô, rượu bia và rươu chác, khoai chip, nước trái cây, nước táo (cider), chanh, trà, tôm đông lạnh.

 

Trên bản ghi nhận thực phẩm, hóa chất nầy được ghi là Sulfur Dioxide, Sodium bisulfide hay Potassium metbisulfite v.v…

 

Còn Việt Nam dung hóa chất trên dưới các dạng trên và có thêm chlor vào để nhằm hay mục tiêu, bảo quản thực phẩm và làm trắng sản phẩm. Do đó, nguy cơ độc hại rất cao vì nguyên tố chlor (chloro-sodium sulfite) là một nguyên nhân gây ra ung thư lên con người.

 

Đây là một loại bột trắng, khi bị tiếp nhiễm qua đường khí quản, căn cứ theo Cơ quan Quyền lực Âu châu về An toàn Thực Phẩm (AESA), cơ thể con người sẽ cảm thấy bị khó thở và có thể bị nghẹt thở. Đôi khi bị ho rũ rượi. Sự hiện diện của nguyên tố chlor cũng là nguyên nhân của nguy cơ ung thư nếu bị tiếp nhiễm lâu dài.

 

Trong kỹ nghệ thực phẩm, hóa chất nầy được dùng để làm trắng các sản phẩm để làm bắt mắt người tiêu dùng. Các sản phẩm được nhà sản xuất áp dụng tính chất nầy là: bánh tráng, các loại bột dưới dạng sợi như bánh canh, bún, miếng v.v….. Một thí dụ điển hình là trước kia, bánh tráng sản xuất từ VN có màu ngà, và hay bi bể vì dòn. Trong thời gian sau nầy, bánh tráng trở nên trắng phau, được cán mõng, và đặc biệt rất dai, nhúng nước và cuốn không bị bể ra. Đó là do công lao của borax và hóa chất tẩy trắng.

 

3-    Hóa chất trong xì dầu

 

Hóa chất có tên viết tắt là 3-MCPD, hay tên hóa học đầy đủ là 3-monochloropropane-1,2-diol. Trong quy trình sản xuất xì dầu, phương pháp thủy phân bằng acid chlorhydric (HCl) trên các loại bánh dầu thực vật như đậu nành, đậu xanh, hay trong các mô mỡ động vật v.v... cho ra phế phẩm trên và một số hóa chất tương tự thuộc nhóm chloropropanol. Còn phương pháp chế tạo xì dầu qua công nghệ lên men tự nhiên thì không tạo ra các phế phẩm trên. Ngay sau khi giai đoạn chế biến xì dầu xong, hàm lượng của các hóa chất trên có thể tăng lên trong giai đoạn vô chai, dự trữ, và ngay cả trong khi nấu nướng, nếu hóa chất klhông được khử đúng mức ngay từ lúc ban đầu. Hiện tại, hầu hết các công ty sản xuất xì dầu ở Việt Nam áp dụng phương pháp thủy phân bằng acid do đó dung lượng 3-MCPD có hàm lượng cao là điều không thể tránh khỏi. Trong lúc đó, ở các quốc gia Tây phương, ngay cả Nhật Bản và Trung Quốc, phương pháp lên men trong việc chế biến xì dầu chiếm từ 86 đến 90% trên tổng lượng xì dầu sản xuất.

 

Ảnh hưởng của 3-MCPD lên con người

 

Tương tự như các hợp chất hữu cơ chứa chlor khác, 3-MCPD khi đi vào cơ thể qua đường thực phẩm sẽ tích tụ trong các mô mỡ và gan. Qua thời gian, một khi liều lượng của hóa chất trên cao hơn mức an toàn của cơ thể có thể chấp nhận được, nguy cơ bịnh ung thư sẽ xảy ra. Theo Ủy ban Khoa học Thực phẩm Âu châu, 3-MCPD được xếp vào hạng hóa chất có nguy cơ gây ung thư và di truyền (genotoxic carcinogen). Sự hiện diện của hóa chất trong cơ thể phải được hạn chế tối đa, và định mức chấp nhận hàng ngày trong cơ thể (Tolerable Daily Intake – TDI) là 2ug/Kg/cơ thể.

 

Theo tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y tế VN, ban hành ngày 23/5/2005 sau ba năm nghiên cứu là: hàm lượng của 3-MCPD có trong xì dầu không thể vượt quá 1 mg/Kg áp dụng cho xuất cảng, và giao động từ 3- 5 mg/K cho việc tiêu dùng trong nội địa (tức cao hơn mức cho phép 500 lần). Trong lúc đó tiêu chuẩn của LH Âu Châu là 0,02 mg/Kg, của Anh Quốc 0,2 mg/KG, Bỉ 0,5 mg/Kg. Qua các tiêu chuẩn trên, quả thật chúng tôi không thể hiểu tại sao BYT Việt Nam lại có hai quy định riêng rẽ cho xì dầu xuất cảng và xì dầu nội địa. Chẳng lý nào người dân VN có sức đề kháng với hóa chất trên cao hơn người ngoại quốc?

 

Tình trạng xuất cảng xì dầu

 

Các sản phẩm xì dầu dùng để xuất cảng do nhiều công ty trong nước sản xuất. Quan trọng nhất là Cty Liên doanh Chế biến Thực phẩm Việt Tiến (VITEC Food) xuất cảng xì dầu qua nhản hiệu Chin Su. Ngoài ra còn có các Cty như Nam Dương, Mêkong, Nestlé VN xuất cản qua Âu châu, Mỹ châu, Úc và Á châu.

 

Cách đây độ hai năm, Anh Quốc từ chối một lô hàng của VN vì hàm lượng 3-MCPD cao hơn tiêu chuẩn. Và gần đây nhất vào tháng 7, 2006, Bỉ cũng đã trả về các lô hàng Chin Su vì hàm lượng hóa chất trên lên đến 86 mg/Kg.

 

Để bào chữa cho việc xì dầu bị trả về, dĩ nhiên BGĐ của Cty phải chạy tội bằng cách phủ nhận qua phát biểu của Ông Phạm Hồng Sơn, TGĐ, như sau:"Sản phẩm của Cty VITEC Food xuất cảng từ năm 2003 sang các nước Đông Âu và EU, nhưng chưa bao giờ xuất cảng sang Bỉ, nên chai nước tương phát hiện ở Bỉ có hàm lượng 3-MCPD lên tới 86 mg/Kg có nhiều khả năng là giả". Xin nhường lời bình luận về phát biểu trên của Cty VITEC cho người đọc. Tuy nhiên, với tính cách thông tin, qua kiểm tra của Trung tâm Đo lường Chất lượng 3 TpHCM thì có độ 50% số lần mẫu của xì dầu Chin Su không đạt tiêu chuẩn. Cũng như theo báo cáo củaTrung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm thuộc Sở KHCN-MT Tp HCM, qua 42 mẫu nước tương thì toàn bộ 42 mẫu đều có hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều khi lên đến 7 – 8 ngàn lần nghĩa là 7000 – 8000 mg/Kg.

 

Tuy tiêu chuẩn do BYT đưa ra là 1mg/Kg nhưng vẫn chưa có biện pháp cũng như quy định nào cụ thể về việc kiểm tra phẩm chất sản phẩm của các nhà sản xuất. Cũng cần nên biết là toàn quốc chỉ có 9 phòng thí nghiệm có khả năng phân tích hoá chất 3-MCPD, và chi phí phân tích là 800 ngàn ĐồngVN/mẫu.

 

Xi dầu giả hiệu

 

Ngoài 2 phương pháp thủy phân và lên men là chính trong quy trình sản xuất xì dầu. Dĩ nhiên là ở VN, có nhiều thể loại mặt hàng nhái, hàng giả hiện diện khắp nơi từ hàng tiêu dùng cho đến thực phẩm. Do đó việc sản xuất xì dầu cũng không tránh khỏi tình trạng nầy. Nói ra thì thấy kinh tởm, nhưng sau đây là một sự thật đang xảy ra ở VN. Hiện có sự xuất hiện của nhiều nhà thu gom tất cả xương gà, xương heo, bò ở các tiệm ăn, thậm chí ở những đống rác, để mang về nấu trong acid, và được trung hòa lại bằng sút caustic. Sản phẩm được vô bao nylon hay chai lọ dưới nhản hiệu "nước cốt để làm xì dầu" và được bày bán khắp nơi nhất là ở chơ Kim Biên, Chợ Lớn. Nơi đây còn bày bán các nguyên vật liệu để làm nước tương qua công thức chế biến là: nước + muối + màu + mùi + chất phụ gia để bảo quản xì dầu sản xuất; đôi khi còn cho them phân bón urea để làm tăng độ đạm trong nước chấm hay xì dầu nữa.

 

Đứng trước tình trạng sản xuất xì dầu ở VN, vài đề nghị để giải quyết vấn đề sản xuất bừa bãi rất nguy hiểm cho sức khỏe của người tiêu dung sau đâu:

 

-       Trước hết, cần phải xem lại cung cách quản lý của VN đối với công nghệ sản xuất xì dầu. VN đã thành công trong quản lý chính trị, ổn định được trật tự xã hội về an ninh, không lý nào lại thất bại trong việc kiểm soát môi trường;

-       Sau nữa, chỉ còn có cung cách làm ăn thật thà, theo đúng quy trình kỹ thuật thì việc trử khữ hay hạn chế sự hiện diện của 3-MCPD trong xì dầu có thể được kiểm soát dễ dàng. Ở các quốc gia tiên tiến, việc chấm dứt quá trình sinh sản 3-MCPD trong xì dầu bằng nhiệt độ cao và tăng độ pH thích hợp sau khi thủy phân;

-       Nguyên nhân của sự hiện diện của 3-MCPD tùy thuộc vào các yếu tố sau: nguyên vật liệu làm xì dầu, điều kiện lưu trử nguyên liệu; việc xử dụng nguồn nước rữa chứa chlor; và những điều kiện bảo quản trườc khi tung ra thị trường như nhiệt độ, độ ẩm.

-     Hiện nay, một số nhà sản xuất ở Tây phương đang dùng acid phosphoric trong giai đoan thủy phân, thay thế acid chlorhydric. Phương pháp nầy có khả năng loại hẳn sự hiện diện của 3-MCPD trong xì dầu.

 

 

4-    Formol

 

Formol có tên hóa học là formaldehyde, công thức la HCHO. Ở dưới dạng lỏng, formol có mùi rất khó ngữi và chỉ được tung ra thị trường dưới dạng hòa tan trong rượu methanol từ 37 đến 50%. Do đó, ngoài độc chất là formol, chúng ta cũng cần để ý đến độc tính của rượu methanol hay methylic. Trong quá trình chưng cất rượu ethylic, hay rượu cồn, luôn luôn có thêm một phó phẩm là methanol rất độc. Do đó, thỉnh thoảng chúng ta vẫn thường thấy trên báo chí Việt Nam nhiều trường hợp bị nhiễm độc đi đến tử vong do uống rượu methylic kỹ nghệ là do hóa chất nầy.

 

Trở về formol, con người khi bị tiếp nhiễm qua da, mắt cảm thấy ngứa ngái khó chịu. Khi bị xâm nhập vào thực quản, cơ thể sẽ phản ứng mạnh mẽ như ói mữa, bị tiêu chảy và mất nước mau chóng có thể đi đến tử vong. Nếu da bị tiếp xúc lâu ngày sẽ trở thành nhạy cảm, dị ứng và có những chứng bịnh ngoài da phát sinh như bịnh gảy ngứa (eczema).

 

Như mọi người đều biết, công dụng chính thức của formol ngoài việc được xử dụng trong các phản ứng điều chế hóa chất cơ bản trong kỹ nghệ, formol còn được dùng để bảo quản các xác chết để khỏi hư thúi. Theo Chương Trình độc tố Quốc gia của Bộ Y tế HK thì hóa chất nầy được xếp vào loại hóa chất có nguy cơ gây ra bịnh ung thư khi bị tiếp nhiễm dài hạn. Còn trong thực phẩm, formol đã được tẩm lên bánh phở để chống thiu và vấn nạn nầy đã nổ lớn và làm náo động thị trường buôn bán phở ở VN cũng như ở hải ngoại, những nơi có người Việt định cư ở những năm vừa qua và vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

 

5-    Urea, Nitrite, Nitrate

 

Urea là một lọai phân hóa học ó nhiều chất đạm (nitrogen) còn có tên do nông dân thường gọi là phân "lạnh". Công thức hóa học là H2N-NH2. Urea rất cần thiết cho việc trồng lúa. Nhưng từ khi khai mở phát triển đến nay (1986), sự lạm dụng phân bón trong nông nghiệp đã làm cho nguồn nước bị ô nhiễm nặng, nhứt là ở đồng bằng sông Cửu Long. Dư lượng phân bón và thuốc trừ sa6yu rầy trong nước hiện đang là một vấn nạn lớn cho vùng châu thổ nầy. Đã có chỉ dấu từ nhiều năm qua cho thấy mức độ ô nhiễm nguồn nước đã làm cho tôm cá trong vùng đã bị nhiễm độc cũng như lúa gạo cũng có vết tích của thuốc trừ sâu rầy và kim loại độc hại.

 

Qua quá trình phản ứng trong đất và nước, dư lượng urea sẽ biến thành nitrite và nitrate. Chất sau nầy là nguyên nhân chính của hiện tượng Blue baby Syndrome, nghĩa là một bịnh về máu của trẻ sơ sinh.

 

Urea cũng có đặc tính phụ là kềm hãm sự phát triển của vi khuẩn cho nên đã bị gian thương lạm dụng để bảo quản thực phẩm như tôm cá, giữ được sắc còn tươi dù đã để lâu ngày. Người dân đánh cá mang urea theo dùng để thay thế nước đá, vừa tiện và vừa rẽ. Cá tôm mực, sau khi mang về bãi, trước khi giao cho thương buôn lại được ướp urea một lần nữa. Và dĩ nhiên còn nhiều lần nữa cho đến khi tới tay người tiêu thụ. Do đó, Urea thấm vào thịt cá rất nhiều, và sẽ là một nguy cơ lớn cho người. Ở Việt Nam, con buôn còn pha trộn urea vào nước mắm để làm tăng độ đạm, sau đó thêm muối và nước để có thể pha loãng thêm ra để kiếm lời. Tin mới nhứt vừa cho hay là TC đã làm giả nước mắm hiệu Việt Hương sản xuất từ Thái Lan vì đây là một thương hiệu được người Việt hãi ngoại ưa xài. Nước mắm nầy hoàn toàn được chế biến bằng màu và mùi hóa học không hề có bong dáng của cá hay mực!

 

Còn nitrite, đã được gian thương xử dụng làm cho cây trái, rau đậu được tươi xanh. Hóa chất trên cũng chính là mầm móng của ung thư nhứt là ở bao tử và ruột già.

 

6-    Chì, Thủy ngân, Arsenic

 

Ba hóa chất trên là 3 kim loại độc hại có mặt trong nguồn nước qua nguồn phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, một số kỹ thuật chế biến không đúng cách cũng làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Và đây là một nguy cơ ung thư rất lớn.

 

Gần đây nhứt những tin tức trên bào chí cho biết TC thay vì dùng hệ thống hút nước và xấy khô đối với thực phẩm. Họ lại dùng phương pháp "thô sơ" nhứt là sấy khô bằng phương pháp cho khói xe thổi vào phòng kín chứa cây trái hay các hạt cần xấy khô. Từ đó, các sản phẩm như trà, tiêu, các loại củ hay trái cây khô điều có chứa chì và thủy ngân.

 

Ba hóa chất trên còn có một công dụng khác là giữ màu được bền lâu. Do đó, kỹ nghệ sành sứ tráng men của TC cũng như kỹ nghệ đồ chơi, sơn và dệt nhuộm đều có sự hiện diện của các hóa chất trên. Ngay cả kỹ nghệ làm đẹp như son môi cũng có dấu vết của chì và Rhodamine, một phẩm màu đỏ nhân tạo dùng cho kỹ nghệ dệt.

 

7-    Calcium carbide hay khí đá

 

Đây là một hóa chất ở thể rắn màu xám có công thức hóa học là CaC2. Dễ gây phản ứng phát nhiệt mạnh với nước, có thể cháy hoặc nổ. Con người khi bị tiếp nhiễm qua mắt và da, sẽ cảm thấy khó chịu, chảy nước mắt và ngứa ngái. Nếu bị tiếp nhiễm qua đường thực quản có thể bị hôn mê và đi đến tử vong. Kỹ nghệ trái cây chiếu cố đến hóa chất nầy nhiều nhất. Trái cây từ nhà vườn được hái khi chưa được chín tới mức để tránh bị dập hư trong khi chuyên chở. Khi đi đến vựa trái cây ở các thành phố, trái cây ngay sau đó được ủ trong khí đá; và chỉ vài giờ sau, các trái cây còn xanh như chuối, xoài, đu đủ v.v... sẽ có màu tươi tốt như mới vừa chín tới. Việc dùng khí đá để "thúc" trái cây có lợi điểm là làm bắt mắt người mua, nhưng phẩm chất của trái cây không còn giữ được như trong tự nhiên nữa như độ ngọt và mùi vị sẽ kém đi. Và vì bị "vú ép" cho nên độ đường không tăng trưởng đúng chu kỳ của trái cây, do đó trái cây mất đi vị ngọt tự nhiên. Thêm nữa, sự nguy hiểm của việc vú ép bằng hóa chất nầy có thể tạo ra hỏa hoạn, và điều nầy đã được chứng minh trong quá khứ tại chơ Cầu Ông Lảnh, vựa trái cây chính của thành phố. Hiện nay khí đá đã được thay thế bằng một hóa chất tổng hợp khi pha vào nước sẽ gây phản ứng cho ra khí đá và làm trái cây chín sau vài giờ ngâm trong dung dịch.

 

8-    Hóa chất bảo quản sodium benzoate

 

Trong kỹ nghệ, sodium benzoate là một hóa chất dùng để bảo quản thực phẩm để khỏi bị hư và có tính chống mốc. Hóa chất này sẽ giúp thực phẩm không bị đổi màu, giữ mùi nguyên thủy, và sau cùng bảo quản các thành phần cấu tạo sản phẩm cũng như không làm biến dạng. Công thức hóa học của sodium benzoate là NaO-C6H5. Theo Cơ quan Quản lý Thực phẩm HK, mức chấp nhận của hóa chất nầy trong thực phẩm là 0,1%. Và nồng độ có thể gây tử vong khi xâm nhập vào cơ thể là 2g/Kg/trọng lượng cơ thể.

 

Qua độc tính kể trên, chúng ta cần phải nói đến quá trình điều chế hóa chất trên. Theo quy trình sản xúât sodium benzoate, một phế phẩm độc hại là phenol luôn hiện diện trong thành phẩm nầy. Do đó, sodium benzoate sau khi sản xuất cần phải khử phenol trước khi tung ra thị trường cho kỹ nghệ thực phẩm. Nếu không, nguy cơ bị nhiễm độc do phenol rất lớn, và hóa chất nầy ảnh hưởng đến hệ thần kinh, nhất là đối với trẻ em và thai nhi trong bụng mẹ khi bị tiếp nhiễm qua đường thực phẩm.

 

Hiện tại hóa chất trên được nhập cảng từ Trung Quốc và dĩ nhiên có chứa rất nhiều tạp chất như phenol. Vì vậy, cần phải xem xét xuất xứ của hóa chất trước khi đem áp dụng vào thực phẩm.

 

9-    Hóa chất bảo vệ thực vật

 

Đây là một vấn nạn lớn của dân tộc, ví nó ảnh hưởng dài hạn lên nhiều thế hệ trong tương lai. Theo báo chí Việt Nam, các vụ ngộ độc chiếm đến 25% trên tổng số vụ ngộ độc. Điều nầy nói lên tính cách quan trọng của vấn đề. Xin hãy nghe tiếng nói của tác giả Liêu Tử ở Việt Nam:" Các bạn phải luôn đề cao cảnh giác, và nhớ luật nầy: các thứ rau, củ, quả, ngó thấy ngon chớ mà ham. Trái khổ qua, ngó như trái bị đèo thì hãy mua. Củ cải trắng, củ cà rốt cũng vậy. Người trồng trọt xứ mình chi ham trồng được rau củ quả to bự, cân có ký, bán có giá, mặc sức hóa chất tống vào trong đó". Xin thưa hóa chất tống vào đó chính là hóa chất bảo vệ thực vật tức là hóa chất diệt cỏ, trừ sâu rầy, trừ nấm mốc v.v ... Các hoá chất diệt trừ cỏ dại nếu dùng liều lượng thích hợp sẽ biến thành các hóa chất "kích thích tăng trưởng" . Đó chính là lý do tại sau rau đậu, quả dưa, trái cà, thậm chí đếm cọng giá, cọng rau muống …cũng to lớn, xanh mướt rất bắt mắt.

 

TS Nguyễn Đức Tuấn, Trưởng phòng thí nghiệm Môi trường thuộc Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng I đã cho biết như sau:"Kết quả nhiều đợt phân tích cho thấy tất cả các loại hoa quả TQ và cam Việt Nam đều có chứa thuốc diệt cỏ 2,4-D và 2,4,5-T. Các loại hóa chất nay đang được nông dân xử dụng để bảo quản hoa quả.. Trung tâm Thông tin và Chuyển giao Hà Giang đã chuyển đến chúng tôi hai gói boat in chữ TQ với hình ảnh quả hồng tươi rói. Qua phân tích chúng tôi tìm thấy nhiều hợp chất trong đó có hóa chất 2,4-D có hàm lượng đến 70%. Riêng gói thuốc diệt cỏ có băng màu xanh đậm còn tìm thấy hóa chất 2,4,5-T". Các gói hóa chất nay được bày bàn tự do ngoài thị trường ở Hà Nội và Tp Sài Gòn dưới giá khoảng 2.000 Đồng Việt Nam một gói độ 2g. Liền ngay khi kết quả trên được công bố, ngày 13/5/2004, ông hoàng Thủy Tiến, Phó Cục trưởng Cục An toàn Vệ sinh Thực Phẩm đã tuyên bố:" Các hóa chất bảo vệ thực vật 2,4-D và 2,4,5-T trong táo, mơ, trứng, sữa và các loại quả mọng khác có hàm lượng không quá 0,05 mg/kg hoa quả. Như vậy, lượng hóa chất độc hại tồn dư trong hoa quả vẫn dưới ngưỡng cữa cho phép. Người tiêu dùng không nên quá lo lắng". Theo Cơ quan Lương Nông Quốc tế (FAO) và Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), hai loại hóa chất trên hoàn toàn bị cấm sử dụng cho thực phẩm.

 

Trong các loại hóa chất trên, có hai loại Việt Nam thường dung nhứt là Endo sulfan và Metamidophos; chất sau nầy còn có tên thương mại là Monitor. Hai chất trên thường được dung trong việc trồng trọt rau củ, bầu bí, rau cải, và các loại dưa thậm chí dung để "ướp" các loại thịt động vật như heo, bò, gà vịt và các loại thủy sản như mục tôm cá. Đặc biệt rau muống là "bệnh nhân" của việc chữa trị nầy cộng thêm sư phun xịt dầu nhớt cũng như thuốc k1ich thích tố tăng trưởng 2,4,5-T (là một hóa chất diệt cỏa trong chiến tranh Da Cam Việt Nam trước đây).

 

Hàng TC nhập cảng "lậu" như đậu ve, cải ngọt, dưa leo, rau ngót, cà rốt chứa nồng độ Monitor rất cao.

 

Monitor là một hoá chất bảo vệ thực phẩm gốc phosphor. Đây là một loại thuốc trừ sâu rất độc đối với hệ thần kinh và nội tạng. Người tiêu dùng thực phẩm có thể bị ngộ độc cấp tình như tức ngực, khó thở, chảy nước mũi, đau đầu, đau bụng, buồn nôn, rối loạn nhịp tim v.v... Khi chất nầy tích tụ trong cơ thể lâu ngày có nguy cơ gây ngộ độc mãn tình, phá hủy các cơ quan nội tạng và đưa đến các chứng ung thư.

 

10- Các phẩm màu trong thực phẩm

 

Trong thực phẩm, màu giữ một địa vị rất quan trọng. Nó làm cho sản phẩm bắt mắt hơn, gây chú ý cho người mua và gây ảnh hưởng tốt về phẩm chất của món hàng. Có hai loại màu: màu tổng hợp và màu thiên nhiên. Màu thiên nhiên được trích từ các mô của cây cỏ. Việc xử dụng loại màu nầy nảy sinh ra nhiều vấn đề như: màu không cố định có thể thay đổi hay biến dạng theo thời gian, nhiệt độ, ánh sáng, và nhất là có thể làm biến dạng phẩm chất của thưc phẩm được nhuộm màu.

 

Còn màu tổng hợp thường tan trong nước và ổn định hơn. Trên thị trường, màu tổng hợp có dưới dạng hạt, bột, dung dịch, hay dạng dẽo. Màu tổng hợp tác dụng với hydroxid nhôm Al(OH)3 để cho ra một dung dịch gọi là hồ (lakes) sẵn sàng để nhuộm màu trong thưc phẩm. Lợi điểm của màu tổng hợp là màu rất bền không bị tác dụng do thời gian, nhiệt độ hay ánh sáng. Các nhà sản xuất thực phẩm rất thích dùng loại màu tổng hợp nầy.

 

Xin đan cử ra đây hai màu căn bản là màu tartrazine có màu vàng và màu carmine màu đỏ ngã qua cam. Đứng về phương diện độc hại, màu rất nhạy cảm cho da, có thể làm nứt da, tạo ra những vảy nến, hay làm dị ứng cũng như nghẹt mũi căn cứ theo báo cáo của Ủy ban Khoa học Thực phẩm cho con người của EU (CSAH).

 

Tuy nhiên, thương buôn không xử dụng màu thiên nhiên vì không bền. Do đó họ thường dùng các phẩm màu tổng hợp trong kỹ nghệ nhuộm để cho thực phẩm có màu tươi hơn và bền hơn. Trong những năm trước, họ dùng màu Sudan (!, II, và IV) để nhuộm màu đỏ. Năm nay họ lại dùng màu Rhodamine, cùng màu đỏ để áp dụng trong bánh mứt và kẹo. Hai màu nầy là một trong những nguy cơ gây ung thư. Hột dưa năm nay được Việt Nam tẩm dầu nhớt và Rhodamine cho hột dưa được bóng và bắt mắt là một thí dụ.

 

Chúng ta phải có thái độ như thế nào?

 

Mỗi năm, cứ mỗi lần Tết đến, hiện tượng thức ăn gian dối, pha trộn hóa chất độc hại, biến chế không theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm lại xảy ra với cường độ ngày càng trầm trọng hơn, tinh vi hơn. Bánh mức không theo phương thức "lương thiện", quy trình sản xuất "chính quy", mà  chỉ mong đạt số lượng thành phẩm cao hơn nguyên liệu, do đó phải pha thêm phụ gia, hóa chất…để làm giảm giá thành và tăng thêm lợi nhuận.

 

Nơi đây thể hiện một não trạng băng hoại trầm trọng trong xã hội. Một quốc gia được quản lý bởi một lớp người hoàn toàn vô cảm với truyền thống văn hóa lương thiện của dân tộc từ ngàn xưa, kết quả đương nhiên sẽ là tình trạng "làm ăn" gian dối, nhứt là vào thời điểm cận Tết như hiện tại.

 

Như vậy chúng ta phải làm gì trước tình thế nầy?

 

Đối với bà con ở quốc nội, bà con đã cảnh giác và đã biết chọn những mặt hàng có nhản hiệu(?) và được bày bán trong các siêu thị(?). Ngoài ra trái cây, bánh mức, đồ tiêu dùng sản xuất từ TC, bà con đã biết e dè và lánh xa dù biết rằng giá cả rẽ hơn nhiều so với mặt hàng bán trong siêu thị. Nhưng thưa bà con, cần phải cảnh giác việc thay đổi, tráo trở nhản hiệu, cũng như bày hàng thiệt (như trái cây nhập cảng từ Hoa Kỳ, Pháp), nhưng khi bán ra thì tráo hàng "dỡm" TC(!). Do đó, một vài trái cây nội địa, một vài bánh bông lan nướng tại nhà để cúng kiến Ông Bà cũng đủ nói lên tấm lòng thành của con cháu rồi, không cần phải "rước" chất độc vào nhà nữa.

 

Đối với bà con ở hải ngoại, một khẩn báo trên internet đã cho biết ngay cả bánh chưn bánh tét đã được làm ở Việt Nam và đã được thay nhản hiệu của từng nhà sản xuất địa phương khi đến Hoa Kỳ. Tại sao bánh tét bánh chưng có nhiễm chì ở Việt Nam? Vì, khi nấu bánh, gian thương đã để cục pin trong bồn nấu, mục đích là làm cho lá chuối vẫn còn xanh tươi (?). Vậy ăn một cái Tết đơn giản nơi hải ngoại sẽ là một giải pháp an toàn nhứt nếu chúng ta không muốn "tự đầu độc dài hạn" cho chính mình.

 

Nên nhớ, việc TC cho nhập cảng ồ ạt với giá rẽ mạt từ thức ăn chế biến, trái cây tươi hoặc khô, rau cải, các mặt hàng tiêu dùng trong nhà… ngoài lý do kinh tế, hạn chế và làm suy kiệt sự phát triển của Việt Nam, mà có thể còn là một lý do sâu xa hơn nữa là nhằm đầu độc các thế hệ tương lai Việt ngõ hầu sẽ không còn đủ trí thông minh và sức đề kháng trước đại nạn Hán hóa của TC đang diễn ra trên khắp mọi miền đất nước.

 

Kinh nghiệm ngàn năm nô lệ của ông cha là một bài học quý giá của chúng ta đó!

 

 

Kết luận

 

Theo tin tức mới nhứt trên tạp chí Food Safety News ngày 2/2/2010 nêu tin FDA vừa thu hồi 1,23 triệu cân xúc xích (salami) của Cty Daniel phân phối trên 42 tiểu bang Hoa Kỳ vì bị phát hiện vi khuẩn Samonella gây bịnh cho 203 người tiêu thụ, nhưng không có người chết. Nguyên do là Cty đã dùng tiêu nhập cảng từ Việt Nam.

 

Qua tin trên, chúng ta nhận thấy rằng, hiện tại khắp nơi trên thế giới, những nơi nào có nhập cản thực phẩm từ TC hay Việt Nam như Nhựt Bổn, Mã Lai, Tân Gia Ba, Liên Hiệp Âu Châu, Hoa Kỳ…  đều hoài nghi những loại thực phẩm bày bán ở thị trường. Nhưng đối với bà con trong nước dù hoài nghi hay cẩn thận đến đâu đi nữa thì cũng phải tiêu thụ thực phẩm nầy. Đó là niềm đau chung, vì đa số người dân không có đủ không có đủ điều kiện tài chính để có thể mua thực phẩm hợp vệ sinh, ngoại trừ một thiểu số có nhiều tiền để có thể mua thực phẩm "an toàn" nhập cảng từ bên ngoài, thậm chí uống nước lọc nhập cảng luôn. Còn tuyệt đại đa số bà con vẫn phải chấp nhận và tiêu thụ nguồn thực phẩm làm từ trong nước cũng như phải dùng nước cung cấp từ Tổng công ty Cấp nước.

 

Cá basa đã bị trả về vì dung lượng hóa chất fluoro-quinolones tồn tại trong cá cũng như bị phạt vì gian dối trong việc giả mạo tên cá qua một vụ xử ở tòa án New York vừa kết thúc. Xì dầu bị trả về vì sự hiện diện của 3-MCPD. Còn tôm và một số thủy sản khác bị trả về vì chất kháng sinh chloramphenicaol trước kia, nay lại bị trả vì sư hiện diện của nitrofuran, vì 3-amino-2-oxazole, vì semicarbazide. Riêng trong trường hợp tôm, Việt Nam đã bị Ngân hàng Thế giới cảnh báo vì đã dùng rhotenone, một độc chất có trong cây thuốc cá để thay thế chloramphenicol vì hóa chất nầy không nằm trong danh mục kiểm soát của Cơ quan FDA HK.

 

Các hành động trên chứng tỏ rằng, nếu Việt Nam tiếp tục đi theo con đường nầy sẽ khó hội nhập vào cuộc chơi toàn cầu vì nơi đây đòi hỏi một sự xuyên suốt về các thông tin an tòan thực phẩm trong trao đổi quốc tế.

 

Để kết luận, lời của một trí thức dấu tên ở Việt Nam đã từng thốt lên": "Việt Nam đang là một đống rác khổng lồ. Đó không phải là ý nghĩ riêng của tôi, mà là nhận xét của nhân vật cao cấp nhất của đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không phải là ý nghĩa kinh tế. Nó bao trùm tất cả mọi khía cạnh đời sống: văn hoá, chính trị, và cả tôn giáo".

 

Việc hóa chất độc hại hiện đang có trong thực phẩm từ rau cỏ cho tới thực phẩm nấu chín hay trong hộp, Việt Nam đã biết từ hơn 10 năm qua, nhưng chỉ thấy loan báo trên báo chí, cảnh giác người tiêu dùng, đưa ra kế hoạc rau sạch, an toàn thực phẩm v.v…  Nhưng rốt ráo lại, những người quản lý đất nước chỉ làm được chừng đó, và nếu có thêm nữa chỉ là khuyến cáo người dân đi kiện nhà sản xuất, ngoài ra hoàn toàn không có biện pháp gì cả, cũng như không cần tìm hiểu nguyên căn tệ trạng trên đến từ đâu? Chắc chắn là phải đến từ sự phát triển không tôn trọng nguyên tắc bảo vệ mội trường, và đến từ một hệ thống cai trị đất nước vô nhân tính. Chúng ta hãy nghe, một Ông Bí thư tỉnh ủy than vản trước báo chí là tình trạng thực phẩm ở Việt Nam bị nhiễm độc cho nên không biết "ăn cái gì" nữa(?), cũng như cựu Tổng bí thư CS Lê Khả Phiêu phải xây vườn rau "sạch" tại nhà với chi phí hàng triệu Mỹ kim!

 

Vậy thì, một câu hỏi cần phải được đặt ra cho những ai còn có chút tự trọng dân tộc: Tại sao một dân tộc luôn luôn tự hào với truyền thống bốn ngàn năm văn hiến, bổng nhiên để cho đất nước mình trở thành một đống rác, kho chứa tất cả những gì xấu xa nhứt của nhân loại văn minh?"

 

Đã đến lúc Việt Nam cần phải chấp nhận thực tế nầy. Nếu không cải thiện tình trạng trên, Việt Nam dù đã là thành viên của Tổ chức Thương mãi toàn cầu (WTO) hơn 3 năm qua, nhưng nếu tình trạng xuất cảng thực phẩm kém phẩm chất và chứa quá nhiều dư lượng hoá chất độc hại sẽ lần lần bị mất đi thị trường hải ngoại và sẽ bị cô lập trong một tương lai không xa.

 

 

Mai Thanh Truyết

Tết Canh Dần 2010

 

 

Hóa chất trong Thực Phẩm Tết 2010

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết nói về thực phẩm Tết
Tuesday, February 02, 2010 Bookmark and Share
medium_DP-100202-MutTet.jpg

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết trong cuộc mạn đàm dành cho phóng viên Người Việt tại tư gia về vấn đề dùng hóa chất trong thực phẩm tại Việt Nam và Trung Quốc. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)

Việt Nam, Trung Quốc dùng quá nhiều hóa chất

Nguyên Huy/Người Việt

WESTMINSTER - Thực phẩm, nhất là thực phẩm Tết, được sản xuất tại Việt Nam và Trung Quốc tạo rủi ro cao cho người tiêu thụ, vì dùng quá nhiều "phụ gia" độc hại. Ðó là nhận định của Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết trong một cuộc mạn đàm cùng Người Việt.

Câu hỏi mà chúng tôi dành cho Tiến Sĩ Truyết là bánh mứt và thực phẩm Tết "Made in China" hay "Made in Vietnam," cần được nhìn nhận ra sao, về mặt khoa học và dinh dưỡng.

Tiến Sĩ Truyết nhận định: "Thực ra, chất phụ gia trong thực phẩm và bánh mứt Tết thì ai cũng biết dưới các danh từ thường gọi. Thí dụ như chất Borax, là Hàn The, Urê, chì, thủy ngân (Arsenic), phóc môn, khí đá (Calcium carbite)... Ðó là những chất mà dân tộc tộc ta đã dùng từ nhiều đời qua kinh nghiệm thực tế trong việc chế biến thực phẩm."

"Nhưng sở dĩ trước đây các chất này không gây hại nhiều vì người ta mới chỉ dùng ít trong việc chế biến và nếu có thì cũng chưa có việc định chuẩn nên khó biết. Nay, vì nhu cầu thương mại, cạnh tranh người ta đã không ngần ngại dùng đến một hàm lượng tối đa để nhanh chóng có sản phẩm vừa tươi tốt, mỡ màng lại bảo quản được lâu, nhất là trong lãnh vực xuất cảng. Ở Việt Nam thì nay quả là một thảm nạn cho người dân vì sau năm 1986, nhà nước có chính sách đổi mới. Sự phát triển kinh tế đã không bảo vệ được môi trường. Ai nấy đua nhau sản xuất trong tinh thần "ăn sổi ở thì," bất kể đến vệ sinh tối thiểu. Do đó mà từ không khí, đất trồng cho đến nước ngầm... đều bị ô nhiễm trầm trọng. Và như thế thực phẩm như rau cỏ, cây trái, lúa gạo đều đã ẩn chứa một hàm lượng độc tố ảnh hưởng đến sức khỏe của con người vô cùng."

Từ cái nhìn tổng quát ấy, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết đề cập đến những sản phẩm cung ứng cho ngày Tết như bánh mứt, hạt dưa, hoa quả...

Mứt, như mứt sen, mứt dừa, mứt bí... là từ những trái cây đã được tăng trưởng trong những điều kiện bị ô nhiễm như kể trên. Cộng thêm vào đó là hàm lượng đường mà người ta không ngần ngại dùng đường hóa học vì đường hóa học ngọt gấp 600 lần đường mía hay đường củ cải. Ðường hóa học còn giúp cho bánh mứt không bị chảy nhão như đường thường nên rất dễ bảo quản.

Nói đến các chất gây nguy hại cho sức khỏe con người, Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết, sau những cuộc nghiên cứu riêng, thấy rằng tất cả những phụ gia để chế biến bánh mứt trong ngày Tết đều là mầm mống gây bệnh ung thư ở mức độ phải báo động.

Chất "hàn the" là một loại bột trắng dễ hòa tan trong nước và giữ nước nên đã được dùng nhiều trong kỹ nghệ thực phẩm như các loại bún, miến, bánh tráng, bánh phở, hủ tíu để được dai cứng, lâu thiu hơn. Tác hại của hàn the trong cơ thể là gây nhức đầu, bại hoại cơ thể, nhịp tim đập nhanh, trầm cảm, hiếm muộn.

Chất "sun phít" cũng là một loại bột trắng dùng để tẩy trắng thực phẩm như bánh tráng, mứt dừa và các loại bún khô. Tiến Sĩ Truyết nhấn mạnh: "Nay ta vào các tiệm ăn gọi món cuốn ta thường được cung cấp bánh tráng dai, mỏng, trắng phau... không vàng, dễ vỡ nát như trước. Ðó là nhờ các chất borax và các chất tẩy trắng."

Các chất chì, thủy ngân là những chất thường được dùng trong việc sấy khô thực phẩm. Bánh mứt, nhất là các loại mứt khi chế biến phải bắt buộc qua giai đoạn sấy khô. Nay tại Trung Quốc, theo Tiến Sĩ Truyết, có nhiều nhà máy dùng phương pháp rất thô sơ là cho khói xe thổi vào phòng kín chứa cây trái cần sấy khô. Từ đó các sản phẩm như trà, tiêu, các loại củ hay trái cây khô như hồng khô đều có chứa chì và thủy ngân với hàm lượng cao. Ðáng lẽ việc sấy khô phải cần phương pháp hút nước và sấy máy các thực phẩm. Ở Việt Nam nhiều nơi sản xuất thực phẩm khô cũng đã bắt chước theo sự "sáng tạo" của Trung Quốc. Ba hóa chất trên còn có tính chất giữ màu sắc của thực phẩm được lâu bền.

Phẩm màu trong thực phẩm bánh mứt Tết cũng được pha chế từ các hóa chất độc hại và được dùng không giới hạn. Màu trong thực phẩm là điều rất quan trọng nên không có thực phẩm nào được chế biến mà không có màu sắc "bắt mắt." Ðó là các hóa chất dưới dạng bột và pha với hydroxide nhôm thành hồ để nhuộm bất cứ loại thực phẩm nào. Rõ rệt nhất là hạt dưa. Phẩm mầu gây hại cho da, làm nứt da tạo những vẩy nến hay gây những dị ứng mũi...

Tiến Sĩ Mai Thanh Truyết tốt nghiệp Tiến Sĩ Hóa Học tại Pháp năm 1973, về nước dạy tại Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn và sau năm 1975 làm việc trong các nhà máy về môi trường ở Hoa Kỳ. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách và bài viết về môi trường, về những độc hại có trong thực phẩm được sản xuất từ một số nước Á Châu đang có sản phẩm bán tại Hoa Kỳ nơi có đông cộng đồng Á Châu, nhất là cộng đồng người Việt sinh sống.

Một Góc Bolsa

Một Góc Bolsa

 

Nhắc đến tên gọi Bolsa, hầu hết người Việt hải ngoại đều đã nghe qua, thăm viếng, thậm chí sống theo từng "hơi thở" của Bolsa. Bolsa muôn màu, muôn vẽ. Bolsa, thủ đô tỵ nạn. Bolsa, gió tanh mưa máu. Bolsa làm biết bao nhiêu người trăn trở. Khách phương xa, nhất là người VIệt ở những tiểu bang xa xôi hay ở ngoại quốc (đối với Hoa Kỳ) đều có cái háo hức muốn một lần thăm viếng Bolsa.

Bolsa có đủ những sinh hoạt của người Việt; nơi đây là một trung tâm truyền thông, báo chí, truyền hình đông đảo nhất nước Mỹ. Mọi sinh hoạt từ thông tin, văn hóa, văn nghệ, chính trị, ra mắt sách, hội luận chính trị  v.v…đều đổ dồn về đây. Bolsa quy tụ tất cả hỉ, nộ, ái, ố…của con người.

Tóm lại, có thể nói Bolsa là một xã hội Việt Nam thu hẹp ở ngoài đất nước. Tác giả Chu Tất Tiến đã từng viết "Bolsa có gì lạ không em", nói lên nhiều khía cạnh của cuộc sống, những dằn co, cọ sát giữa con người với nhau từ vợ chồng, con cái, đến bè bạn, thậm chí đến các bậc trường thượng, chức sắc tôn giáo cũng không tránh được những tiếng bấc tiếng chì…

Nhưng có một khía cạnh của Bolsa dường như không được người dân Bolsa lưu ý đến. Đó là người già, những người bất hạnh, hoặc tàn tật, hay vì một lý do nào khác… sống âm thầm trong hàng chục nursing home rãi rác chung quanh Bolsa. Đây là một thế giới đơn độc chen lẫn với cái hỗn độn của Bolsa.

Họ là ai?

Họ là những người già, không còn khả năng tự chăm sóc lấy mình, nhưng vì sống cô đơn, không thân nhân hoặc con cháu vì một lý do gì đó(?) không thể chăm sóc tại gia.

Họ là những người mất hết khả năng để làm một người bình thường do cuộc chiến Việt Nam, dù tuổi họ chưa già.

Họ là những người bị tàn phế vì bịnh bịnh nan y hay tai nạn xe cộ.

Nói cho cùng, dù dưới hoàn cảnh nào, họ đã và đang sống trong một xã hội khép kín, hầu như không còn biết đến thế giới bên ngoài, một Bolsa năng động.

Họ đã sống với cái "routine" ngày ba bữa ăn, mỗi sáng có y tá đến hỏi thăm, lấy nhiệt độ, cho uống thuốc. Thỉnh thoảng được ra phòng khách, phòng ăn, hay được đẩy ra sân cỏ…cho thoáng khí…

Những người còn có con cháu thì thỉnh thoảng được con cháu vào thăm trong giây lát, đút cho ăn một vài miếng cơm hay trái cây…Người viết đã từng chứng kiến một hoạt cảnh là một bà cụ khoảng 80 tuổi, ngồi xe lăn đang ngồi ở phòng khách lớn của một nhà dưỡng lão. Một thiếu phụ trạc độ 50 mang trái cây đã cắt sẳn vào cho mẹ (người viết biết được điều nầy là vì nghe tiếng gọi của thiếu phụ gọi bà cụ là mẹ). Thiếu phụ dường như có điều gì cần phải làm sau đó cho nên có vẻ hối hả trong việc cho bà cụ ăn, hối thúc bà cụ nhai cho mau…Người viết chứng kiến một cách đau lòng là nhiều lần bà cụ vì cố nuốt cho mau nên bị sặt và ói ra ngoài. Thế là một màn cằn nhằn xảy ra, thiếu phụ vội lau miệng bà cụ, và dọn dẹp đồ đạc. Sau đó cho bà cụ uống nước và vội vã chia tay mẹ..

Đây là một hoạt cảnh ở Bolsa, chúng ta cùng suy gẩm. Tình mẫu tử của một người con sống ở một xứ văn minh nhất thế giới như thế nầy sao?

Nhưng mục đích của bài viết nhân ngày Tết Con Cọp không nằm trong những hình ảnh tiêu cực của một số người Việt trong cộng đồng, người viết muốn nói đến một khía cạnh tích cực hơn, để chúng ta còn nhìn thấy, cảm được những hình ảnh đẹp còn vương vấn trong lòng người Việt xa xứ.

Đó là những nhóm, toán, cá nhân, hay tập thể bền bĩ và âm thầm đi thăm viếng các viện dưỡng lão vào dịp cuối tuần hay trong ngày làm việc.

Họ là ai?

Nói chung, họ là những người còn có tấm lòng nghĩ đến tha nhân. Họ có thể là một em học sinh, sinh viên, một người nội trợ, một anh thợ may, một người đang còn hoạt động, hay một người đã hưu trí. Tất cả họ gặp nhau ở cùng một điểm chung là xoa dịu nỗi đau của người bất hạnh. Họ không có tên của nhóm, của đoàn. Họ không đăng báo quảng cáo. Và họ cũng không cần lời giới thiệu tên tuổi mỗi khi đi viếng nơi nào. Họ âm thầm làm việc, hẹn hò nhau để tụ họp lại, cũng như chia phiên ra để đi thăm nhiều nhà dưỡng lão hơn.

Họ làm gì?

Việc làm của họ thật là giản dị, đem tấm lòng thành trang trãi qua lời ca tiếng hát, mặc dù họ không là ca sĩ hay nhạc sĩ. Nếu chúng ta có dịp đến thăm một nhà dưỡng lão vào ngày nầy, chúng ta sẽ thấy những cặp mắt tuy không còn rạng rỡ, đôi khi còn "nhìn mông lung", nhưng hầu như mọi người đều vui mừng cùng tham gia lời ca tiếng hát chung. Có đến đây thăm, rồi mới thấy được niềm vui của những người sống ở nhà dưỡng lão, mới thấy được giây phút "đợi chờ" của họ đối với những thiện nguyện viên vô danh. Có đến đây thăm mới thấy được không khí sống động, xóa tan sự im lặng và buồn tẽ của nhà dưỡng lão hàng ngày.

Một lời ca cũ, một khúc nhạc xưa làm cho họ gợi nhớ lại nhiều kỷ niệm cách xa từ thuở nào. Người viết đã từng chứng kiến một cụ ông 70 tuổi, chỉ lớn hơn một thiện nguyện viên 2 tuổi. Ông cụ nầy bị stroke, ngồi xe lăn, chỉ nói được một vài tiếng và từng là Sỉ quan quân đội VNCH. Khi anh thiện nguyện viên cầm bài hát Quyết tiến đứng bên cạnh cụ, thấy vẽ mặt cụ hân hoan và cùng hát theo tiếng nhạc với tiếng còn tiếng mất. Trong hoàn cảnh nấy, ai cũng thấy được nét hân hoan của cụ, một thoáng chốc sống lại với dỉ vãng oai hùng của mình khi xưa. Chính những giây phút ngắn ngũi ấy, mới cảm nhận được nhu cầu của những người bất hạnh phải sống trong viện dưỡng lão.

Những bài hát xa xưa, mặc dù được hát do những ca sĩ bất đắc dĩ nhưng cũng đem lại sự an ủi cho họ, cộng thêm những lời hỏi thăm sức khỏe, những lời trấn an mà họ đã thiếu vắng vì đơn chiếc hay vì con cháu "chậm" đến thăm..

Tất cả nói lên một tấm lòng giữa người và người mà họ đã không có được tùy theo hoàn cảnh.

Còn những người nằm bất động không còn khả năng ra ngoài hội trường để tham gia những buổi "ca nhạc" thì sao?

Thưa Quý bạn. Họ không bị lãng quên đâu. Còn có những Bà tiên, Ông hiền đến tận giường an ủi.

Một câu chuyện thương tâm xin được kể ra nơi đây có thể xem như là một phép lạ. Một anh lính VNCH, tuổi khoảng 50 ngoài, nằm bất động ở một nhà dưỡng lão do một tai nạn xe hơi.

Anh không có thân nhân, và đang ở trạng thái gần như coma từ nhiều tháng qua. Một thiện nguyện viên cũng tình cờ đến thăm, nói chuyện, trấn an anh, nhưng vẫn không được anh có cử chỉ nào báo hiệu cho biết là đã nghe. Vào một ngày khác, người thiện nguyện viên nầy đến thăm nữa. cũng nói bao nhiêu lời; nhưng lần nầy thấy mắt anh lính VNCH chớp chớp. Điều nầy làm chính cô y tá của viện cũng ngạc nhiên vì cô ta, người chăm sóc anh, chưa thấy bao giờ.  Sau đó, anh lính, qua cách làm dấu thánh giá một cách vụng về và cặp mắt bắt đầu hé mở, chứng tỏ anh hiểu những gì người thiện nguyện viên nói. Mọi người vui mừng ra về.

Nhiều ngày sau đó, cô thiện nguyện viên lại đến thăm và được cô y tá cho biết là anh lính VNCH có vẻ mong chờ. Hôm nay, cô mang chiếc thánh giá, do một người bạn công giáo cho, đến biếu anh lính. Và phép lạ đã xảy ra khi tay anh cầm chiếc thánh giá: anh đã mở mắt lớn hơn và nói được hai tiếng cám ơn, tiếng nói, theo lời cô y tá, đã im bặt từ ngày anh được mang vào viện dưỡng lão. Anh còn cố gắng ra dấu để cho cô thiên nguyện viên biết là anh cần một quyển thánh kinh. Dĩ nhiên là ước nguyện của anh đã được chiếu cố. Và từ khi có quyển thanh kinh đặt trên ngực, khí sắc anh lính VNCH tươi hơn, và gương mặt không còn "đứng im" như trước nữa, mặc dù anh vẫn còn nằm bất động. Ở một lần khác, một thiện viên gốc Hải quân vào thăm anh. Khi anh lính Hải quân chào anh theo kiểu nhà binh, không biết anh có thấy được hay không, nhưng khi nghe tiếng hai chiếc đế giầy chạm vào nhau, anh lính VNCH khẽ nhết môi và viềng mắt anh chớp chớp. Thật cảm động!

Qua câu chuyện vừa kề trên, chúng ta thấy rằng tình tha nhân có thể biến đổi một phần nào tình trạng sống của con người. Chúng tôi không thể nói chắc chắn đây là một phép lạ, nhưng với một niềm tin vào sức mạnh tâm linh nào đó, có thể khơi dậy được tâm thức người bịnh và làm cho họ nhận thức được sự hiện hữu của họ.

Việc làm âm thầm của những thiện nguyện viên đáng được ghi công vào một góc Bolsa để từ đó mỗi người trong chúng ta tự chiêm nghiệm rằng mình đã "đóng góp" gì cho "đời" chưa, chứ chưa nói gì đến tổ quốc.

Bolsa có nhiều tệ trạng. Bolsa có nhiều hình ảnh đẹp. Bolsa cần nhiều bàn tay âm thầm có thể xoa dịu hay khỏa lấp được phần nào nỗi đau của đồng hương bất hạnh nơi đây. Bolsa cần sự tiếp tay của nhiều, nhiều hơn nữa thiện nguyện viên.

Xin hãy ghé thăm một lần bất cứ viện dưỡng lão nào, chúng ta cũng sẽ thấy biết bao khuôn mặt Việt Nam đau khổ, nằm bất động hay ngồi trên xe lăn, biết đâu trong số đó có bạn bè hay thân nhân của chính mình!. Một cử chỉ thân ái bằng vạn lời nói đầu môi chót lưỡi. Một nắm tay xiết nhẹ có thể làm cho họ quên đi nỗi buồn vì con cái không đến thăm viếng. Một lời ca cũng có thể làm sống lại một thời xa xưa.

Họ, những người bất hạnh trong các viện dưỡng lão đang cần chúng ta.

Mọi sự bất hạnh nào cũng cần được giúp đở. Quê nhà bị bão lụt, một đứa trẻ di tật, một ngôi làng thiếu mái trường…tất cả điều cần được giúp đở của chúng ta. Và thữ nghĩ, những chuyện thương tâm trên cần sự giúp đở của chúng ta trước hay là do trách nhiệm của những người quản lý đất nước. Tình thương cần phải đặt đúng vi trí , như vậy mới có đầy đủ ý nghĩa. Nhưng thiết nghĩ, bên cạnh chúng ta đây cũng còn có nhiều người bất hạnh chỉ cần một ít thì giờ cũng có thể xoa dịu được phần nào niềm u uẩn nơi họ.

Ưu tiên nào chúng ta phải làm?

Xin dành câu trả lời cho mỗi chúng ta và người viết hy vọng mỗi người trong chúng ta sẽ tự viết lên "New Year Resolution" cho năm Con Cọp nầy.

Phổ Lập

Kỷ niệm Năm Canh Dần-2010

 

 

 

 

 

 

 

 

 

//////////////////////////////////////////////////