Hội Luận-5-12-09

 
PVS1.jpg picture by usotoda
 
PVS2.jpg picture by usotoda
 

Hội Luận-5-12-09-Thời Luận

h1.jpg picture by usotoda
 
h2.jpg picture by usotoda

Hội Luận-5-12-09

 
MTT1.jpg picture by usotoda

Hội Luận-5-12-09

MTT1.jpg picture by usotoda
 
 
MTT2.jpg picture by usotoda
 
MTT3.jpg picture by usotoda

Một Chặng Đường

Một Chặng Đường

 

 

            Từ xa xa thấp thoáng một vài điểm sáng lập lòe trên sóng nước vùng Cái Côn Cần Thơ trong đêm . Đó là lúc xuất phát của một chiếc ghe chứa 54 thuyền nhân đang đi tìm tự do. Vì tất cả bến bãi đã được "mua" trước nên chuyến đi rất an toàn trên suốt đoạn đường qua cửa biển. Tôi là một trong hai thuyền trưởng "không bằng cấp"  đã điều khiển chiếc ghe sau hai đêm một ngày lênh đênh trên biển cả đi thẳng vào Trengganu thuộc địa phận Mã Lai. Trengganu là một thành phố nằm sát biên giới phía Nam ngăn cách Mã Lai và Thái Lan. Về phía Bắc ở địa phận Thái Lan là Songkla, một trại tị nạn nổi tiếng về tình trạng khắc nghiệt đối với thuyền nhân.

 

            Trước khi vượt biên, đã có tin đồn rằng Mã Lai không chấp nhận các thuyền nhân Việt Nam nữa và sẽ đẩy tàu tị nạn ra khơi lại khi cận bến. Do đó, khi nhận diện được quốc kỳ Mã ở một trạm đồn trú sát biển chúng tôi liền quyết định ủi bãi mặc dù phải chịu áp lực của sóng to lúc đó. Tàu chỉa mủi đâm thẳng vào bãi cát bên cạnh đồn lính...mà không hề có ước tính  nông sâu tại địa điểm trên. Chỉ trong phút giây chiếc tàu lật nghiêng và tôi từ trên phòng lái nhảy liều xuống biển. Khi biết rằng biển cạn chỉ tới thắt lưng, tôi bèn la to để mọi người bớt hoảng hốt, và sau đó từng  người một thay nhau nhảy xuống khỏi tàu, ướt đẩm, mất tất cả đồ đạc trừ quần áo mang trên người và cuối cùng cũng đến được bến bờ tự do trong hoàn cảnh tệ hại kễ trên. Sau khi định thần và kiểm điểm lại thì thấy thiếu mất một người, mà vài ngày sau xác một cô gái trôi vào một chỗ cách đó vài cây số. Tuy huyền hoặc, nhưng trong hoàn cảnh nầy cũng phải tin lờiø truyền rằng nơi đây luôn luôn phải để lại một người cho mỗi tàu vượt biên!

 

            Tàu chúng tôi được Mã Lai cho bảng số là PB 768 (PB viết tắt cho chữ Pulau Bidong) và tất cả 53 người còn lại được chuyển vào đảo Pulau Bidong sau vài ngày tạm trú ở Trengganu. Khi đi trên tàu cũng như những ngày đầu tiên đến MaÕ Lai, chưa ai hân hạnh biết được tên cúng cơm của tôi cả. Mãi cho đến lúc trình diện tại SB_Special Branch sau khi cập bến vào cầu Jetty ở Bidong, tôi mới thật thà khai báo tên tuổi do cha mẹ đặt ra khi chào đời.

Lý do rất đơn giản là khi quyết định liều mình vượt biên, tôi đã dùng "mãnh lực kim tiền" để mua một chứng minh nhân dân chính thức (không phải đồ giã) và xin được giấy phép chính thức (không phải đồ giã) để đi cào cá tôm ngoài biển. Tôi đã sống trên ghe rày đây mai đó gần hai năm trước khi đặt chân lên đất Mã với lý lịch chính thức trong thời gian nầy là Trần Văn Đức sinh ngày 24/12/1940 tại Tân An.

 

            Chỉ vài ngày sau sau khi nhập đảo, một nhân viên Mỹ tiếp xúc và tôi mới biết tên là Ramsey, cựu đại úy cố vấn sư đoàn 25 đóng tại Củ Chi và đã bị thương ở chân năm 1972, gọi tôi lên và cho biết một số thông tin và tình trạng gia đình của con và vợ tôi dù điều nầy tôi cũng đã biết trước khi ra đi. Ông ta bảo tôi cứ an tâm và ông sẽ tiến hành thủ tục nhanh nhất để tôi được đoàn tụ với gia đình.

 

            Từ khi biết được tôi có "liên hệ mật thiết" với "giới chức có thẩm quyền" và biết được lý lịch thật của tôi, hầu như mọi người trên đảo đều nhìn tôi với một căïp măùt không bình thường nữa. Họ thân thiện hơn để cầu cạnh? Một số người khác mà tôi quen biết từ Việt Nam thìï lo sợ và né tránh  vì sợ tôi tố cáo lý lịch và hành vi ở Việt Nam? Còn một số có vẻ ghen ghét vì không được địa vị của tôi chăng? Đa số tỏ vẻ kính trọng tôi vì nghĩ tôi biết chữ nghĩa?... Ôi thôi đủ cả!  Nhưng không biết vì tôi tốt số hay có nhiều may mắn mà chỉ hai ngày sau khi đến đảo, một số thanh niên trẻ tuổi mà tôi vẫn còn nhớ tên từng người cho đến bây giơ "rủ" tôi về nhà ở chung trong khu B nằm sát bờ biển; và chăm sóc tôi từ việc ăn uống đến việc xách nước sinh hoạt hàng ngày. Tôi chỉ ngày ngày đi tắm biển và suy nghĩ về các hoạt động tương lai "từ thành phố nầy, tôi sẽ ra đi!!!" (Anh Truyết cám ơn NVHoàng (Hoàng ngáy, Porland), NVHiếu (Boston), TVHoàng (Hoàng méo, Toronto), NXOánh (London, Canada)... Các bạn trẻ trên đã qua xong Bàn 1_Screening và lần lượt được chuyển qua Sungei Besi trước tôi vài ngày.

 

Trại cấm Sungei Besi

 

            Sungei Besi là một trại tị nạn hình chử nhựt, daì khoãng 350m, ngang độ 250m, nằm về phía đông bắc của thủ đô Kuala Lumpur Mã Lai và cách thành phố nầy khoảng một giờ lái xe. Trại chỉ có duy nhất một cổng lớn ra vào. Chung quanh bao bọc bởi hàng rào cao độ 1.8m và phía trên được phủ bằng những cuộn kẽm gai. Trại chia ra làm hai phần: trại A chiếm độ 3/4 diện tích chứa dân tị nạn thuộc diện sẽ định cư tại các quốc gia nói tiếng Anh, trại B thì dành cho các quốc gia nói tiếng Pháp và linh tinh. Trại A gồm 16 nhà "hộp" có giường và bàn ghế trong nhà và tám dãy nhà "long house" là những "ngăn" nhà, không cửa. Mỗi ngăn chứa được tám thuyền nhân. Vào thời điểm 1983, toàn trại có khoảng hơn bốn ngàn tị nạn đang chờ để được đi định cư  vào đệ tam quốc gia.

 

            Trong giờ làm việc hàng ngày, nhân viên Hội Lưởi Liềm Đỏ Mã Lai (Red Crescent) điều hành sinh hoạt của trại. Sau giờ làm việc và cuối tuần là thời điểm của Task Force do một đại úy quân đội Mã tên là Khally chỉ huy.

 

            "Tiểu quốc" Sungei Besi thật ra được điều hành và "quản lý" bởi bốn cơ quan độc lập, chứ không phải "chính phủ trung ương", đại diện cho dân chúng sống tại đây và không có thực quyền gì so với bốn cơ quan sau !

 

            Trước hết là Hội Lưởi Liềm Đỏ của Mã Lai. Đây là một cơ quan hành chánh, điều hành sinh hoạt trại và phụ trách thông tin liên lạc. Họ nhận thư tín và bưu phiếu gữi đến từ thân nhân bên ngoài và chuyển giao cho chính phủ tức Hội Đồng trại. Họ ăn lương của  Mã Lai nhưng Liên Hiệp Quốc phải trả lại tất cả chi phí nhân sự/dịch vụ  cho chính phủ Mã. Tuyệt đại đa số nhân viên của Hội theo đạo Hồi nên họ rất quyết liệt trong việc cấm thịt heo và rượu. Dân chúng Mã ngoài trại vẫn ngày ngày bán lậu thịt và rượu vào trại cho dân tị nạn.. Nếu bị bắt, người vi phạm sẽ bị tịch thu tang vật và có thể bị đánh đập... Trong những trường hợp nầy, đích thân Tổng thống hay Bộ trưởng an ninh phải can thiệp để cứu "phạm nhân"! Người Mã Lai luôn luôn giữ thái độ hách dịch và xem dân tị nạn như một loại công dân hạng nhì. Thuyền nhân dù phải chịu sự quản lý của họ, nhưng chắc chắn trong thâm tâm của mỗi người tị nạn khi rời trại sẽ không  chút lưu tình nhỏ nào vì nhận thấy họ chỉ làm việc để đổi lấy đồng lương chứ không thể hiện một hành động nhân đạo nào cả!

 

            Thứ đến, Task Force là một nhóm quân đội đặc nhiệm do một đại úy và một số quân nhân trực thuộc bộ chỉ huy ở Kuala Lumpur. Nhiệm vụ của họ là giữ gìn an ninh trong trại vào cuối tuần và sau giờ hành chánh mỗi ngày. Nhiệm vụ tuy rất rõ ràng, nhưng cũng chính họ gieo rắc tệ trạng do việc cấu kết với tư bản Tàu (thí dụ như cho phép buôn bán "xả dàn" sau khi các phái đoàn ngoại quốc và Cao ủy rời trại), du đảng và nhất là những cán bộ cộng sản vượt biên để làm những việc kém văn minh đối với người tị nạn.

 

            Thứ ba là các phái đoàn đến từ các quốc gia chấp nhận tị nạn, phỏng vấn và quyết định tình trạng định cưcủa từng người tị nạn. Thường xuyên đến làm việc để thu thập dữ kiện, tài liệu... là phái đoàn Hoa kỳ, sau đó là Pháp vì Pháp cũng là đại diện cho một số quốc gia trong vùng. Phái đoàn của các quốc gia khác đến và đi không định kỳ. Chỉ có phái đoàn Hoa kỳ làm việc năng nổ và rộn rịp nhất vì đại đa số tị nạn đều xin định cư tại quốc gia nầy. Hầu như hàng ngày, ngoài các nhân viên Sở Di trú và Nhập tịch (Immigration & Naturalization Service tức là INS), còn có thêm nhân viên an ninh , tình báo nói tiếng Việt rành rọt đến phỏng vấn và điều tra những trường hợp đặc biệt. Họ làm việc có công tâm nhưng đôi khi quá máy móc thành thử nhiều trường hợp rất thương tâm đã xảy ra vì tình ngay lý gian hoặc để cộng sản trà trộn vào các nước cho định cư khác nhất là nước Úc.

 

            Thứ tư và là tổ chức đáng ghi ơn nhiều nhất về phương diện tình cảm là những "tiên ông và tiên bà"...những người thuộc các phái đoàn thiện nguyện do Cao ủy Liên Hiệp Quốc chịu trách nhiệm. Chỉ có một vài nhân viên điều hành Cao ủy được đài thọ tương xứng với công việc về thù lao và phụ cấp; còn đa số đều là tình nguyện viên trong chương trình đại loại như Peace Corps của Hoa kỳï . Họ đã đến từ mọi quốc gia trên thế giới. Họ là những người trẻ tuổi, hưởng phụ cấp rất tượng trưng khoảng US$500/tháng và sống trong điều kiện tương tự như dân  ở trại tị nạn. Họ là những người ra về trể nhất trong ngày. Đôi khi họ còn xử dụng số tiền phụ cấp ít ỏi của họ để giúp tị nạn. Họ làm đủ mọi công tác cần thiết cho cộng đồng tị nạn như dạy sinh ngữ, huấn nghệ, xã hội, hướng dẫn khải đạo (counseling) v.v.... Họ chính là những làn gió mát hiếm hoi trong những giây phút căng thẳng và ngặt nghèo của các mãnh đời tị nạn.

 

            Cũng cần ghi thêm nơi đây những ân nhân của tị nạn là các limh mục (quên tên) đã không quản ngại phiền nhiểu và nguy hiểm đối với chính quyền Mã. Chính các linh mục đã mang tin tức, tiền bạc, giúp đỡ chuyển thư từ...từ các nơi về cho thuyền nhân ngay cả đối với những người không có điều kiện liên lạc. Đây là một phương tiện thông tin, chuyển ngân hữu hiệu, không thất thoát và đầy tình người so với bưu điện Mã Lai. Xin ghi ơn các bậc tu hành trên.

 

Con đường tiến thân

 

            Vừa chân ướt chân ráo đến Sungei Besi, lũ bạn trẻ của tôi đã đợi sẳn và đón tôi về dãy Long House 7 lúc đó mới vừa xây cất xong. Tên tôi được cấp ở nhà hộp (có giường ngủ, bàn và đèn điện) tiện nghi hơn nhưng sau cùng tôi quyết định sống trong điều kiện của những người "cùng đinh" trong xã hội.

 

            Chỉ hai ngày sau đó, ông Ramsey đến tìm tôi và muốn tôi làm Camp Leader trong thời gian tôi tạm trú ở đây (Nơi đâu cũng có bàn tay lông lá cả!). Và tôi nhận lời. Có lẽ tôi là một dân sự đầu tiên giữ "địa vị" nầy vì trước đó dường  như chỉ có sĩ quan quân đội hay cảnh sát làm Trưởng trại mà thôi. Cựu Th.T hải quân ĐQV (Westminster) đến đảo trước tôi hơn hai tháng, và là Trưởng trại ở Bidong đã rất ngạc nhiên khi không được tiếp tục làm ở Sungei Besi. Sự kiện nầy đã càng khiến cho nhiều người xác quyết rằng tôi đã được Mỹ, CIA dựng lên để làm "puppet" cho họ.!

 

            Kể từ đó, mọi người nhìn tôi hoàn toàn khác hẳn! Tôi thực sự là một "Tổng Thống" của một quốc gia có 4.000 dân. Thủ tục định cư của tôi đã được giải quyết một cách mau chóng bởi tòa đại sứ Hoa kỳ tận ngoài Kuala Lumpur và tôi chỉ tuyên thệ trước nhân viên INS (Bàn 4) lúc đó là ông Wallace, không có sự hiện diện của nhân viên và thông dịch viên Việt Nam, do đó càng không ai biết chắc chắn lý lịch đích xác của tôi cả. Điều nầy làm cho tôi có thêm một huyền thoại bí hiểm đối với nhiều người, làm tăng uy thế cũng như tạo điều kiện cho tôi điều hành "quốc gia" tương đối dễ dàng. Đó là bởi vì, đại đa số thuyền nhân mang tâm trạng "tâm phục" và "sợ phục", vì sau lưng tôi có Mỹ chứ không phải hiến pháp!

 

            Việc làm đầu tiên của tôi ngay sau khi lên "ngôi cữu ngủ" là dời đô về phía nhân dân. Số là những Tổng thống tiền nhiệm làm việc trong một văn phòng có máy lạnh, nằm trong dãy nhà làm việc của nhân viên Hội Lưởi liềm Đỏ, trong lúc, trụ sở Văn phòng trại tức Nội các chính phủ chiếm cứ một dãy nhà lợp thiết, rất nóng...Việc liên lạc-thông tin với Tổng thống do đó đã rất khó khăn vì bị "ngăn sông cách chợ" do thủ tục ra-vô văn phòng Hội. Phần tôi quyết định chọn nhân dân, nghĩa là chấp nhận chia xẻ nóng bức và áp bức cùng với đồng bào.

 

            Hai hành động không ở nhà hộp tiện nghi và dời đô về phía "quần chúng" vô hình chung biến tôi trở thành một vị tổnh thống "anh minh" và hợp lòng dân ít nhất về phương diện  hình thức ban đầu. Tiếp đó, nội các tị nạn (Camp Council) được thành lập như sau:

·                     Tổng Thống (Camp Leader): Mai Thanh Truyết

·                     Thủ Tướng (General Secretary): Nguyễn Văn Huy, cựu công chức Ty Công chánh Cần Thơ, hiện ngụ tại Lansing (Michigan);

·                     Bộ Trưởng An Ninh (Security): Trần Văn Sơn, cựu Đại úy Sư đoàn 25 Tây Ninh, Hiện ngụ tại San Diego (California);

·                     Bộ Trưởng Mật vụ (Special Branch tức SB): Nguyễn Hồng Hải, Đại úy đã từng được huấn luyện tại trường Hoàng Phố (?);

·                     Thứ Trưởng Mật vụ: Nguyễn Trường Khương, Thiếu úy huấn luyện viên Bộ Tư lệnh Cảnh sát, cư ngụ tại Loa Angeles (California);

·                     Bộ Trưởng Y tế (Hospital): BS Trương Văn Như, hiện cư ngụ tại Garden Grove (California);

·                     Thứ Trưởng Y tế: BS Khương văn Lịch, hiện cư ngụ tại Wesminster (California);

·                     Bộ Trưởng Xã hội (Social Services): Hoàng Ngọc Thủy, Trung úy hải quân, hiện cư ngụ tại Sydney (Úc);

·                     Bộ Trưởng Bưu điện kiêm Tổng Cục Gia cư (Post & Housing):  Hà Văn Thước, sinh viên, hiện cư ngụ tại Hawai.

 

Dù không có Bộ Tài chánh, Quốc phòng, Tư pháp và Ngoại giao và nhất là không có ngân sách điều hành và tài nguyên, quốc gia Sungei Besi vẫn được xếp hạng vào hàng quốc gia bậc trung so với các nước đang mở mang trên thế giới với tổng sản lượng tính theo đầu người tương đương với US$5,00/ngày hay US$ 1,850.00/năm (US$4.00/ngày/người do Cao Ủy LHQ trợ cấp, gạo do Trung quốc đài thọ, quần áo vật dụng do các nước viện trợ).

 

Nhân viên chính phủ làm việc trong tinh thần tự nguyện, không phụ cấp, không lương bổng và hoàn toàn chia xẻ cùng một điều kiện sống với tất cả mọi từng lớp nhân dân trong quốc gia Sungei Besi nầy. Luật lao động cũng như việc nghỉ phép thường niên hay nghỉ bịnh...không thể áp dụng ở đây...mà nếu có nghỉ thì cũng chẳng biết đi đâu vì đây là một quốc gia hoàn toàn cô lập với tất cả xã hội bên ngoài "vòng rào". Nội các chính phủ làm việc hết sức tích cực rất xứng đáng là "đầy tớ của nhân dân". Đây chính là một quốc gia lý tưởng về phương diện phân bổ phúc lợi đồng đều cho toàn dân từ thượng tầng kiến trúc cho đến hạ tầng cơ sở. Có thể gọi đây là một thiên đường mà người cộng sản thường cổ súy chăng?! 

 

Nhân viên chính phủ phải làm việc hầu như 24/24 giờ, các viên chức trách nhiệm đều luôn luôn sống trong tình trạng báo động để ứng trực. Những chuyện thường xảy ra trong xã hội là: tranh chấp giữa người dân, tranh chấp nhà ở, ghen tuông, khiếu nại về thức ăn, cổ phần ăn, mất đồ đạc, bị ức hiếp, chèn ép... và nổi bật hơn cả là những vấn đề an ninh  và cuộc tranh chấp quốc cộng tại tiểu quốc nầy.

 

 

Những vấn đề nóng bỏng

 

            Vấn đề thứ nhất cho nội các trong việc điều hành quốc gia là việc mọi "công dân tạm thời" ở quốc gia nầy đều rất nhạy cảm với chế độ vừa trãi qua và những gì liên hệ đến cộng sản. Có hai loại đối tượng cần phân biệt: một là cán bộ cộng sản vượt biên, và hai là  những người có liên hệ với cộng sản mà đa số là "cán bộ 30/4" còn được gọi là sư đoàn 304. Bộ Mật vụ thu thập hồ sơ, phỏng vấn các thuyền nhân để thanh lọc kỹ lưỡng các đương sự được xem là có vấn đề... trước khi họ gặp phái đoàn. Đích thân Tổng thống sau đó nghiên cứu và trao đổi tin tức với đế quốc Hoa Kỳ. Hầu hết hồ sơ cộng sản là do sự thổi phồng và lòng "quá nhiệt tình" của nhân viên mật vụ, nhưng cũng có vài trường hợp khám phá đúng hiện trạng của cá nhân có thành tích liên hệ/làm việc với chế độ. Một trường hợp điển hình là XXX, người đã bị phái đoàn Hoa kỳ từ chối định cư ba lần, và sau cùng đã được Úc chấp nhận cho định cư tại Sydney.

 

            Vấn đề thứ hai đến từ Task Force của Mã lai. Họ đã cấu kết để ăn chận phần thức ăn của người tị nạn mà tư bản Trung Hoa đã trúng thầu cung cấp, đến nổi một hộp thịt gà chỉ có vài miếng xương chân gà và nước! Họ cũng đã bao che mở cửa hàng đêm cho người Hoa buôn bán tự do (rượu, thịt heo..) trong bản quốc. Tệ hại nhất là việc cấu kết với du đảng để phát triển mãi dâm và mang phụ nữ tị nạn ra Kuala Lumpur hàng đêm để rồi mang trở về sáng hôm sau trước khi các phái đoàn đến làm việc.

 

            Vấn đề thứ ba là đối phó với du đảng. Ngoài việc cấu kết với Task Force trong vấn đề mãi dâm, các du đảng đầu nậu kết hợp một số thành phần du đảng khác mà đại đa số là thành phần không được quốc gia nào cho định cư, do đó phải ở lại trong trại quá lâu có khi hàng bốn, năm năm trước đó. Thành phần nầy sách nhiểu và hiếp đáp đồng bào đến nổi nếu không có sự can thiệp cứng rắn của Bộ trưởng An ninh thì quốc gia Sungei Besi có thể trở thành đại loạn trong giai đoạn nầy.

 

Vài đối tượng bất hảo

 

            Như đã nói ở các phần trên, sự thành lập quốc gia Sungei Besi quả là một sự tình cờ. Mỗi công dân mang trong tiềm thức những tâm trạng khác biệt nên đã thể hiện chúng qua những thất tình lục dục khác nhau. Tuy cùng giòng máu Việt, nhưng có thể nói trong trường hợp nầy, quốc gia Sungei Besi là một "hợp chủng quốc" về trình độ, và nhận thức. Thật rất khó cho công việc điều hành quốc gia nhất là giữ gìn trật tự cho các sinh hoạt xã hội. Vừa mới nhậm chức vài ngày, đích thân Tổng thống phải đối đầu với những "thương thảo" hay "dằn mặt" từ các đối tượng bất hảo đã nêu ở phần trên.

 

            Đầu tiên Đại úy chỉ huy trưởng Khally (Task Force) mời Tổng Thống ăn chiều ở căn cứ Task Force trong trại như một hình thức kết thân nhưng với dụng ý rõ ràng là chuyển đạt thông điệp  "đừng xen vào những chuyện Task Force làm". Tiếp theo, nhóm du đảng cầm đầu bởi hai anh em Năm Ca và Sáu Hát mời tôi ăn trưa mà tôi biết chắc chắn là sẽ có rượu và thịt heo là hai món bất hợp pháp. Dù nhận lời nhưng tôi đã cẩn thận bố trí hơn mười nhân viên an ninh canh gác chung quanh căn nhà hộp và các ngõ đi vào để đề phòng Task Force vì nhóm nầy có thể phục kích để triệt hạ tôi. May mắn thay, diễn tiến của buổi ăn thật "thắm tình hữu nghị" tuy tôi cũng mượn dịp nầy để chuyển đạt lời nhắn gữi nghiêm khắc là:" Rượu và thịt heo là hai thứ cấm kỵ có ghi trong văn bản của nội quy, mong các anh đừng xử dụng trong phạm vi trại nữa. Nếu nhân viên tôi bắt gặp lần tới, chúng tôi sẽ có biện pháp mạnh". Tôi tin rằng họ hiểu rõ là tôi không hăm dọa xuông. Cũng nên nói thêm là Năm Ca, cựu trung sỉ quân cảnh, và Sáu Hát, học sinh...vì lý do đánh lộn và có hành vi du đảng  mà phái đoàn Hoa kỳ đã từ chối cho định cư hơn năm năm nay. Chỉ không đầy hai tuần sau bửa ăn trên, tôi bắt buộc cho bắt giam Sáu Hát vì tội vi phạm nội quy trại. Nhà tù đầu tiên được thiết lập bên cạnh văn phòng Task Force. Sự kiện nầy làm tôi bị phê phán là đã qua được bến bờ tự do rồi mà còn kềm kẹp đàn áp tị nạn. Nhưng cũng nhờ đó mà trật tự trong trại từ đó về sau tương đối ổn định hơn. Tôi đã lấy quyết định trên không ngoài mục đích mục đích chận đứng sự hợp tác của du đảng với Task Force trong vấn nạn mãi dâm để tôi rãnh tay đối phó với Khally. (Năm Ca và Sáu Hát sau đó bị trả về lại Bidong và bị giam trong nhà tù Mã lai cho đến năm 1992, sau đó không có thêm tin tức).

 

            Đối tượng thứ ba và nguy hiểm nhất là các cán bộ cộng sản vượt biên và thân cận của họ. Họ có thế lực Task Force yểm trợ ngầm vì có liên hệ mật thiết với nhau qua dịch vụ săn gái và chuyển gái ra Kuala Lumpur. Đại diện của nhóm nầy là NVNam, trung úy công an nội chính Bến Tre và hiện có cửa hàng sản xuất tranh thủ công nghệ, huy động hàng chục nhân viên dưới tay. Tên nầy được ra vô Kuala Lumpur thường xuyên bằng xe của quân đội Mã để mua bán nguyên vật liệu và sản phẩm thủ công nghệ. Nên nhớ là, không có thuyền nhân nào được phép ra khỏi trại ngoại trừ các trường hợp như đi bịnh viện khẩn cấp, sanh sản, mổ xẻ, hay do yêu cầu từ tòa đại sứ Hoa kỳ. Người thứ hai là thiếu úy Hoàng Mạnh Dược, biên phòng Rạch giá. Hai tên nầy có một cuộc sống rất "đế vương" và làm rất nhiều chuyện chướng tai ga mắt mà trước đó không vị tiền nhiệm nào dám đụng đến họ chỉ a tòng theo! Dĩ nhiên là họ bị Hoa Kỳ và các nước khác từ chối cho định cư, tin tức sau cùng năm 1992 cho biết họ vẫn còn ở đây. Hai đối tượng bất hảo nầyï đã mua chuộc tôi bằng cách biếu cho tôi một bức tranh "vinh quy bái tổ" với hàng chữ đề tặng vợ tôi. tBức tranh nầy vẫn còn được giữ trong phòng tôi cho đến hôm nay để tôi tự nhắc nhở mình chưa làm được việc đó cho "phân nửa kia" còn lại của tôi.

 

            Câu hỏi được đặt ra, đối với vấn đề giải quyết định cư vào đệ tam quốc gia của những thành phần như trên, là: Có nên giữ chân họ mãi trong trại tị nạn chuyển tiếp hay đề nghị trả họ về lại nguyên quán? Ngày nay tôi vẫn chưa tìm được câu trả lời thỏa đáng khi viết lại những dòng trên đây.

 

            Sau khi tạm thời triệt hạ được nhóm du đảng, tôi bắt đầu chỉa mũi dùi về phía Task Force với mục đích tống khứ Khally. Nhân viên của tôi đã thiết lập được danh sách của các cô gái "nhẹ dạ" cũng như  "không nhẹ dạ", là những người đã "hành nghề" ở Long house 8 lúc đó  chưa có người ở, và những người đã đi ra ngoài Kuala Lumpur hàng đêm. Một lần nữa, xin cám ơn sự hữu hiệu của nhân viên dười quyền của Bộ trưởng an ninh TVSơn. Sau khi thiết lập đầy đủ chứng cớ, tôi xin gặp Cao ủy trưởng và Ramsey. Tôi biết rõ là Cao ủy tị nạn chỉ chăm sóc những vấn đề xã hội như y tế, huấn nghệ, dạy sinh ngữ và khải đạo....Họ không có quyền hạn gì cả trong công việc giải quyết các xáo trộn trong trại. Do đó tôi hoàn toàn tin tưởng vào Ramsey và Tòa Đại sứ Hoa kỳ, người có thể giúp tôi giải quyết vấn nạn nầy. Cuối cùng tôi thành công trong việc trừ khử Khally và chấm dứt được tình trạng mãi dâm ở tiểu quốc Sungei Besi.

 

            Tuy nhiên hậu quả của thành tích nầy là tình trạng an ninh cá nhân của tôi từ đó không được bảo đảm nữa. Số là Đại tá chỉ huy trưởng, có lẽ vì mất phần chia chác trong dịch vụ trên, đã để tâm thù tôi và cho một thiếu tá thay thế Khally theo dõi tôi từng bước một. Họ đã biết được thói quen của tôi thường hay đến bịnh viện để đọc hồ sơ báo cáo của SB. mà vị bác sỉ Bộ trưởng Y tế của tôi có tính "ham vui" nên thường xuyên có người đẹp ra vào ăn uống có khi nhảy nhót bỏ túi nữa trong khuôn viên bịnh viện đầy đủ tiện nghi với máy lạnh. Task Force hy vọng bắt được quả tang tôi tham gia các sinh hoạt nầy để làm chứng cớ triệt hạ tôi. Họ đã thất bại nặng nề!

 

            Cần phải kể thêm sau đây một thành tích nổi bật của "Tổng Thống thuyền nhân" làm hầu hết nhân dân của tiểu quốc vui mừng là việc nhận lại được thư và bưu phiếu tưởng đã mất. Đa số thuyền nhân khi đến Pulau Bidong chỉ ở lại một thời gian ngắn trung bình từ hai đến sáu tuần lễ thôi. Thời gian nầy chỉ vừa đủ để cho họ báo tin đến thân nhân ở ngoại quốc. Khi thân nhân hồi âm và gữi bưu phiếu tiếp tế thì đa số tị nạn đã được chuyển trại qua Sungei Besi. Nhân viên Hội Lưởi Liềm Đỏ vì tắc trách và thường xuyên "làm thất lạc" các bưu phiếu trong thư cho nên người tị nạn không nhận được. Biết được việc nầy tôi nhờ Cao Ủy can thiệp. May mắn thay họ cho phép chúng tôi ra tận kho chứa của Hội ngoài Kuala Lumpur để nhận lại các thư cũ. Trong khi phân phối thư chúng tôi đã thu hồi trên US$12,000.00, tiền cùa thân nhân tị nạn gữi qua, mang đến niềm vui nho nhỏ cho nhiều người.

 

            Vẫn chuyện đối đầu với Task Force, tôi thường xuyên bị tên đại tá thay thế Khally đe dọa. Tình trạng nầy trầm trọng và căng thẳng thêm sau khi tôi âm thầm xách động nhân dân không nhận thức ăn sáng để phản đối nhà thầu cấu kết với Task Force ăn chận phần ăn của tị nạn. Vào một buổi sáng đẹp trời, hơn 2.000 nhân khẩu trên tổng số 4.000 đã tuân theo lời rĩ tai của chính phủ từ chối lãnh phần ăn sáng. Việc nầy làm náo động toàn trại và Task Force biết chắc rằng chỉ do tôi khởi xướng mà thôi. Họ xem tôi như cái gai chận đứng lợi lộc của họ khi chỉ nhận được tiền của 2000 khẩu phần có chữ ký của tôi thay vì 4000.

 

            Tình trạng ngày càng căng thẳng đến nổi tôi quyết định là phải tìm mọi cách hợp pháp để mau chóng rời khỏi nơi đây. Kết quả là một sớm đẹp nắng, Ramsey xuất hiện mà không báo trước đưa tôi ra phi trường cùng với hai mươi em cô nhi để nhờ tôi hướng dẫn qua Hoa kỳ. Tôi còn nhớ những lời chúc lành và cám ơn của Ramsey về những việc tôi đã làm ở trại Sungei Besi.  Sự thực là tôi chỉ được biết mình phải rời nơi đây từ tối hôm trước mà thôi. Hành trang của tôi khi ra khỏi tiểu quốc Sungei Besi thật nhẹ nhàng: Không có chương mục ở ngân hàng ngoại quốc; Chỉ một bộ quần áo đang mặc trên người mua bằng tiền của học trò và vợ gữi qua; Bức tranh vinh quy bái tổ đã kể trên; Một phong bì lớn chứa đựng hồ sơ cá nhân mà tôi đã được dặn dò chỉ mở ra khi đặt chân tới Hoa kỳ. Tôi đã không hề nhận lãnh quần áo ở Bộ Xã hội mặc dù chính tôi đã ký nhận hàng tấn quần áo từ các cơ quan thiện nguyện trên thế giới gữi đến.

 

            Tôi rời Sungei Besi sau năm tháng "trị vì". Tuy chỉ là một thời gian ngắn tựa bóng câu qua cửa sổ so với một đời người nhưng giai đoạn nầy đã để lại một dấu ấn sâu đậm. Tôi đã gặp rất nhiều tấm lòng thành, và những bầu nhiệt huyết trẻ, trong sáng và chỉ có tâm nguyện làm tốt cho những người chung quanh và làm đẹp xã hội. Mặc dù biết rằng tôi có thể rời trại để đi Hoa kỳ bất cứ lúc nào vì hồ sơ định cư của tôi đã hoàn tất hai tuần sau khi đặt chân đến Sungei Besi cũng như được miễn qua trại chuyển tiếp ở Bataan (Phi luật Tân). Nhưng  những chuyện nhân tình thế thái ở cái xã hội nhỏ nầy đã làm tôi bận tâm và giữ chân tôi suốt năm tháng dài. Trong khoảng thời gian nầy, quả thật tôi ít có lúc nao nức sớm được gặp mặt vợ con. Thành thật xin lỗi vợ con vậy.

 

            Nhìn lại xã hội thu hẹp Sungei Besi, tôi có cảm tưởng có một sự buông thả hoàn toàn sau khi mọi người vừa được hít thở một ít không khí tự do. Sự buông thả trên không nằm trong ý nghĩa cao đẹp của Phật giáo mà là một sự buông thả vô trách nhiệm, vô đạo đức của một số người đại diện cho mọi tầng lớp trong xã hội. Từ cậu thanh niên đến cô thiếu nữ, từ người vợ trên đường vượt biển tìm chồng cho đến những người cha, người chồng trên bước đường xum hợp gia đình. Tất cả vẽ lại nơi đây một bức tranh vân cẩu nói lên rất nhiều tệ trạng xấu xa nhất trên cõi đời ô trọc nầy mà vì tính chất phóng sự vui của bài nầy, tôi không muốn vào chi tiết.

 

            Phần nhiều mỗi người trong chúng ta đều có "những điểm đen" trong tâm khảm, mà khuynh hướng thường có định kiến khắt khe với người nhưng lại quá dễ dãi với chính mình là một! Nhưng tôi đã may mắn không phạm phải một sai trái nào trong thời gian tạm trú ở đây như "thường tình", mặc dù có biết bao cám dỗ đến từ nhiều phía. Tôi vẫn giữ được "bình an dưới thế", không phải vì tôi biết tự chế, không phải vì tôi có một tấm lòng "trong trắng" và "trung thành với vợ con", mà vì tôi.... biết SỢ! Đây tuy là một xã hội nhỏ tuy nhiên lý trí cho tôi biết rằng, bất cứ một hành động sai traí nào của mình cũng được loan truyền đi khắp thế giới, vì nơi đâu cũng có tị nạn cả. Do đó tôi thì càng phải ráng giữ mình. Chính nhờ suy nghĩ trên mà tôi thoát khỏi "sự cố cho bản thân".

 

            Tuy suy nghĩ như trên, nhưng chỉ ba ngày sau khi đặt chân đến Hoa kỳ, tôi đã làm một việc không tự chế mà mỗi khi nghĩ lại tôi còn cảm thấy "rợn người". Số là, vợ con tôi vì qua định cư trước nên ở chung với ông bà nhạc ở Fresno, California. Khi tới trại tị nạn, vì theo nguyên tắc "thà mõi chân hơn mõi miệng" tôi mới đề nghị (nói cho có vẻ lịch sự và văn minh) vợ con nên dọn đi thành phố khác nhưng gần đó. Vợ con tôi nghe lời lục đục dọn lên Saccramento vài tháng sau đó. Ba ngày say khi tôi qua định cư tại Fresno vì hồ sơ ban đầu ghi địa chỉ nầy. chúng tôi lên đường về nhà trên chiếc xe do vợ tôi lái. Không hiểu vì "thương" hay "không tin tưởng" tài lái xe của vợ, tôi bảo vợ tôi ngừng lại để tôi lái thế. Thêm một lần nữa vợ tôi nghe lời và để tôi chạy về tới Sacramento an toàn sau gần ba giờ lái mà trong người không có bằng lái xe. Tôi làm tôi sợ TÔI quá trời đi thôi!

 

            Tôi xin kết luận bằng một số bài học mà tôi rút tỉa ra được trong thời gian "lãnh đạo quốc gia chuyển tiếp Sungei Besi":

 

·                     Lãnh đạo phải chia xẻ THỰC SỰ với cùng điều kiện sống của nhân dân;

·                     Lãnh đạo sẽ bị đào thải nếu phi dân tộc, phản dân tộc và đi ngược lại quyền lợi của toàn dân;

·                     Bám theo chân ngoại bang thì suốt đời chỉ làm nô lệ cho ngoại bang và sẽ bị loại trừ bất cứ lúc nào ngoại bang thay đổi chính sách;

·                     Thiếu chính nghĩa, hành xử bá đạo, và xử dụng bạo lực để đàn áp nhân dân thì sớm mụộn gì cũng sẽ bị hủy diệt;

·                     Và bài học sau cùng là không thể nào có được độc lập thực sự (trong nghĩa cực đoan) của một quốc gia trước xu thế toàn cầu hóa của thế giới mà phải chấp nhận liên kết và liên đới với nhau.

 

Mai Thanh Truyết

 

                                                                                                

 

Vietnamese American Medical Research Foundation

Vietnamese American Medical Research Foundation

********************

The Foundation would like to invite you to join us for

 

·        MEDICAL PRESENTATION BY:

 

 

·        VIETNAM ISSUE BY:

Dr. Mai Thanh Truyết

President of the Vietnamese American Science and Technology Society

 

"Bauxite Exploitation.in Vietnam"

.

Date:  Sunday December 20, 2009 at 6:30PM

 

At:  Seafood World Restaurant

15351 Brookhurst St.

Westminster, California

Telephone: (714) 775-8828

 

RSVP is mandatory: Khanh V.Q. Luong, M.D. (714) 839-5898

Or e-mail Lng2687765@aol.com

Fwd: Đại Họa Tàu & Dân Tộc Sinh Tồn




Thư Cho Con

Giáo Già

 

Ðại Họa Giặc Tàu

Và Dân Tộc Sinh Tồn

 

Ngày 9 tháng 12 năm 2009

 

H,

 

Các cơ quan truyền thông, trong đó có Website Việt Nam Ði Tới [www.shcd.de], phổ biến ngày 6-12-2009, cho biết theo báo điện tử của bộ đội biên phòng Cộng sản Việt Nam [27-11-2009] thì "Khoảng 7 giờ ngày 27-11, tàu cá của anh Lê Ðình Hiền (33 tuổi) và anh Ngọc (BKS QN 3213TS trọng tải 3.2 tấn, lắp 2 máy 22CV và 15CV, tài sản trên tàu có 10 triệu đồng Việt Nam, 2 máy định vị, 1 ti vi, 90 lít dầu, 1 bộ đàm, 2 chiếc cào bằng I-nốc, 2 bình ắc quy), đang đánh cá tại khu vực sông Bắc Luân đã bất ngờ bị 2 ngư dân người Trung Quốc đi trên 1 bè tre, cập mạn, dùng gậy đánh và khống chế hai anh đẩy xuống biển, cướp tàu chạy về hướng Trung Quốc."

 

Cũng theo nguồn tin, từ lời cấp báo của ngư dân Hiền, "Bộ chỉ huy Biên Phòng Quảng Ninh đã chỉ đạo Ðồn Biên Phòng Trà Cổ điều tra, xác minh làm rõ và thông báo cho công an, biên phòng Trung Quốc phối hợp điều tra, xử lý." Nhưng theo báo Tiền Phong ngày 4-12 thì "Ðến nay cơ quan chức năng của Trung Quốc chưa có thông báo trả lời theo yêu cầu của BÐBP Quảng Ninh."

 

Hình bên: Thuyền Trưởng Trương Minh Quang và thuyền viên Lê Trầm kể chuyện tàu bị bão đánh và bị cướp khi trú bão ở đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa hồi cuối Tháng Chín vừa qua. (Hình: VietNamNet)

 

Ðược biết, khi xảy ra trận bão số 9 cuối Tháng Chín 2009 vừa qua, một số tàu đánh cá của ngư dân miền Trung Việt Nam chạy tới đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam vẫn xác nhận chủ quyền, đã bị bắn và xua đuổi. Các tàu đánh cá Việt Nam cố vào tránh bão thì đã bị cướp sạch hết tài sản trên tàu, kể cả máy định vị và hải bàn, còn người thì bị đánh đập dã man.

 

Trước đó, ngày 21-5-2009, báo Biên Phòng loan tin "Theo thông tin của BÐBP thành phố Ðà Nẵng, vào lúc 10 giờ 30 ngày 19-5-2009, tại toạ độ 17030 N-100050 E, trên vùng biển quần đảo Hoàng Sa, 2 phương tiện treo cờ nước ngoài mang biển số 44061 và 44831 đã cặp mạn chiếc tàu đánh cá QNg 94374 của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi. Một số đối tượng trên 2 phương tiện này đã nhảy sang tàu QNg 94374, dùng dao nhọn đâm thủng một số thúng chai trên tàu và uy hiếp các thuyền viên rồi cướp đi khoảng gần 3 tấn cá." Bản tin vừa kể nêu "hai phương tiện treo cờ nước ngoài" mà không đám nói đó là hai tàu tuần Ngư Chính 44061 và Ngư Chính 44381 của Hải quân Trung Quốc.

 

Trong khi đó thì phía CSVN lại hết sức khiếp nhược trong vụ việc xảy ra ngày 11-112009 khi báo chí CSVN chỉ dám loan tin tàu Hải Quân CSVN lặng lẽ xua đuổi 17 tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam. Ðã vậy, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội cũng chỉ dám lên tiếng phản đối Bắc Kinh cho thành lập các đơn vị hành chính "Ủy ban thôn đảo Vĩnh Hưng và Triệu Thuật", tức các đảo Phú Lâm và Ðảo Cây, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, là các hải đảo bị Trung Cộng chiếm đoạt của Việt Nam Cộng Hòa năm 1974. Còn nhớ, trước đó không lâu, Website của tỉnh Hải Nam, truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2007, ghi rằng: "Nguồn AP được đăng lại trên The China Post dẫn lại thông tin từ Thông tấn xã Việt Nam: 'Quốc hội Trung Quốc vừa phê chuẩn một kế hoạch lập ra một khu vực hành chính tượng trưng gọi là Tam Sa để quản lý 3 quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa, theo TTXVN'."

Ảnh chụp quảng cáo công ty Chicilon trên LCD treo trong siêu thị Citimart tại Sài Gòn. (Hình: BauxiteVN.net)

 

Mới đây, một công ty quảng cáo tại Việt Nam lại vẽ bản đồ Việt Nam không có Hoàng Sa và Trường Sa trên đó. Tác giả Q. Ngọc có bài viết trên Bauxite Việt Nam đã nói rằng "Quan sát trên một số tuyến xe buýt có màn hình LCD từ đường 3/2 ra chợ Bến Thành, rồi từ Bến Thành về Chợ Lớn vào sáng 13 Tháng Mười Một, chúng tôi ghi nhận đoạn video hình hiệu của công ty Chicilon Media với động tác camera lướt dọc theo bản đồ Việt Nam từ Bắc xuống Nam, đúng là phần biển Ðông rộng mở "trống huơ, trống hoác'."

 

Ðược biết, Công ty Chicilon thành lập năm 2001, tên tiếng Việt là Thông Thiên Hy Long, chuyên quảng cáo bằng màn hình LCD và Poster Frame do 3 người Tàu và 2 người Mỹ gốc Việt có mặt trong hội đồng quản trị. Theo trang web của Chicilon, Chủ tịch hội đồng quản trị là Guo Zhi Feng, từng làm trong ngành thuế Trung Quốc 8 năm, được điều đến Bộ Tài Chính, đảm nhiệm chức vụ trợ lý bộ trưởng, và sau đó làm phó tổng giám đốc quản lý các công ty do Bộ Tài Chính đầu tư.

 

Song song với vài chuyện tưởng như là nhỏ đó, tin nhận được từ Hà Nội cho biết: "Bộ Công Thương Việt Nam vừa ban hành một quyết định số 5454/QÐ-BCT ngày 30-11-2009 cho thấy chủ trương khai thác tài nguyên bauxite Tây Nguyên không thay đổi, bất chấp các lời cảnh báo từ các cựu tướng lãnh cộng sản, các nhà khoa học, giới trí thức và dư luận cả trong lẫn ngoài nước". Ðây là quyết định thành lập cái gọi là "Ban Chỉ đạo thực hiện các dự án bôxit Tây Nguyên" được ký tên bởi Bộ Trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng căn cứ vào ý kiến chỉ đạo của thủ tướng chính phủ. Nó gồm có 22 thành viên, đứng đầu là Lê Dương Quang, thứ trưởng Bộ Công Thương làm trưởng ban.

 

Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn, các biến chuyển dồn dập càng lúc càng cho thấy rõ thêm đám người lãnh đạo Ðảng và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chỉ còn là những tên Thái thú, những gia nô của giặc Tàu; khiến cùng lúc với sự chống đối giặc Tàu của đồng bào ở trong nước, người Quốc gia Việt Nam hải ngoại cũng ngày một tích cực hơn trong việc vạch trần các thủ đoạn gian ác của giặc Tàu và của đám Thái thú đang cầm quyền cai trị Việt Nam bằng độc đảng độc tài.

 

Ðể góp phần trong cuộc đấu tranh này, Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy đã cho ấn hành tác phẩm "Từ Bauxite Ðến Uranium ố Tiến Trình Ðô Hộ Việt Nam Của Trung Cộng", được bảo trợ bởi các tổ chức ghi ngay trên bìa trong của sách gồm:

  • Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy
  • Nguyễn Ngọc Huy Foundation
  • Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến
  • Ðại Việt Quốc Dân Ðảng
  • Ðảng Tân Ðại Việt
  • Liên Minh Dân Chủ Việt Nam
  • Tự Do Dân Bản Online
  • Hội Khoa Học Và Kỹ Thuật Việt Nam (VAST)
  • Tả Quân Lê Văn Duyệt Foundation
  • Hội Người Việt Vùng Ðông Vịnh (EBVA)
  • Hội Cao Niên Diên Hồng Vùng Vịnh Oakland
  • International Foundation for the Development of VietNam, Hòa Lan
  • V.I.E.T Foundation- Volunteers for the Integration of Ethnic Traditions, CA
  • Ðài Truyền Hình VHN, CA
  • Diễn Ðàn Ðiện tử khoahoc.net, Ðức
  • Nhóm Phục Việt Âu châu, Paris, Pháp
  • Viện Ðại Học Cao Ðài Tây Ninh
  • Học Viện Tri Hành Sài Gòn
  • Trường Cao Ðẳng Thương Mãi Minh Trí Sài Gòn
  • Tổng Hội Cựu SV Quốc Gia Hành Chánh Thế Giới
  • Hội Cựu SV Quốc Gia Hành Chánh Nam California
  • Tuần Báo Tiếng Dân Bắc California
  • Tuần Báo Mõ San Francisco & Oakland
  • Nguyệt San Non Sông
  • Bán Nguyệt San Thế Giới, Houston
  • PT Quốc Dân Xóa Bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh
  • Liên Ðoàn Cử Tri Người Việt Bắc California
  • Hội Cựu Tù Nhân Chánh Trị Sacramento
  • Khu Hội Cựu Tù Nhân Chánh Trị Bắc California

 

Sách được Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, Tiến sĩ Giáo dục, Cựu Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên Việt Nam Cộng Hòa, giới thiệu như sau:

Hình: Giáo sư Nguyễn thanh Liêm

 

"Từ Bauxite đến Uranium; Tiến Trình Ðô Hộ Việt Nam của Trung Cộng" là một công trình biên soạn công phu, dồi dào dữ liệu, phân tích sâu xa, dưới nhãn quan của nhà chính trị, học giả, khoa học, của ba tác giả không xa lạ gì với giới trí thức và độc giả Việt Nam ở hải ngoại, cũng như ở trong nước: Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Tiến sĩ Phan Văn Song, và Giáo Sư Trần Minh Xuân mà biệt hiệu Giáo Già nổi tiếng đã từng làm nhiều người ngưỡng mộ. Tác phẩm đồ sộ với 584 trang sách, qui tụ 36 bài viết, cộng thêm 16 bài khác ở phần Phụ Lục, phơi bày tất cả quá trình phát triển của Trung Cộng trong hai thập niên qua, cùng cái mộng bành trướng bá quyền truyền thống của Hán tộc, và tiến trình xâm chiếm đô hộ Việt Nam của Tàu cộng xem như hậu quả tất nhiên của hai sự việc nêu trên.

Nhìn vào tình trạng của nước Tàu hồi cuối thập niên 1970, khi Ðặng Tiểu Bình xua 200,000 quân sang dạy cho Cộng Sản Việt Nam một bài học, cả thế giới đều thấy Trung Quốc chẳng có gì đáng kể về phương diện quân sự cũng như kinh tế. Dù là có diện tích to lớn, dù là có dân số đông đảo, dù đã có mấy ngàn năm văn hiến, đối với các cường quốc Mỹ, Nga, Nhật, và một số quốc gia Âu Châu lúc này, Tàu còn rất nghèo nàn, chậm tiến. Tàu không dạy nổi Việt Cộng đàn em một bài học gì cho đáng giá bởi quân đội Trung Cộng hồi này không khá gì hơn quân Cộng Sản Bắc Việt vốn còn đang được sự viện trợ tốt đẹp của Nga Sô. Nhưng sang thập niên 1980 khi chánh sách "mèo trắng mèo đen gì cũng được miễn bắt được chuột" của Ðặng Tiểu Bình được sử dụng để phát triển kinh tế cùng lúc với sự sụp đổ của khối cộng sản Liên Sô, Tàu bắt đầu giàu có mạnh mẽ lên, trong khi Việt Nam Cộng Sản nghèo xơ nghèo xác, chới với vì mất điểm tựa Nga Sô, đành phải cúi đầu năn nỉ cho được trở về thần phục Trung Quốc để sống còn. Thế là coi như đưa cổ vào tròng và chuyện gì phải đến nhất định sẽ đến. Cuối thế kỷ 20 sang đầu thế kỷ 21, hai hiệp ước bất bình đẳng về lãnh thổ và Vịnh Bắc Việt được ký kết giữa Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Trong tạp chí Cộng Sản số 2 tháng 1 năm 2000, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao CSVN là Vũ Khoan viết: "Ngày 30-12-1999, ngay bên thềm của năm mới, tại Hà Nội đã diễn ra một sự kiện quan trọng được dư luận cả nước và thế giới quan tâm: đó là Hiệp ước trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc được ký kết." Theo Vũ Khoan thì nhân dịp Ðỗ Mười thăm Trung Quốc năm 1997 và Lê Khả Phiêu thăm Trung Quốc năm 1999, "lãnh đạo cao nhất của hai Ðảng, hai nước đã thỏa thuận tích cực thúc đẩy đàm phán để ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền trước năm 2000."

Một năm sau cũng trên tạp chí Cộng Sản, số 2 tháng 1 năm 2001, Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng của CSVN cũng nói là nhân chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Trần Ðức Lương, ngày 25-12-2000, nước ta và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ. Cả Vũ Khoan lẫn Lê Công Phụng đều kết luận là các hiệp ước nói trên có tầm quan trọng lớn lao, rất có lợi cho Việt Nam và cho mối bang giao Việt Trung theo đúng tinh thần "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" mà các nhà lãnh đạo Cộng Sản của hai nước đã đề ra. Một bản thông cáo chung cũng đã được Bộ Ngoại giao Trung Quốc phổ biến nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của Trần Ðức Lương. Bản thông cáo mở đầu bằng câu "CHNDTQ (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc) và CHXHVN (Cộng Hòa Xã Hội Việt Nam) là hai nước xã hội láng giềng đã có truyền thống bang giao hữu nghị lâu dài. Trong năm thập niên qua, kể từ ngày liên hệ ngoại giao giữa hai nước được thiết lập, mối bang giao Hoa Việt luôn luôn thắt chặt và phát triển." Bản thông cáo chung còn cho biết lãnh đạo của hai nước sẽ tiếp tục phát triển liên hệ hợp tác hữu nghị trên căn bản của các nguyên tắc độc lập, đầy bình đẳng (full equality), tin nhau, và không can thiệp vào nội bộ của nhau.

Từ đó, dưới 16 chữ vàng ("láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng đến tương lai") và bốn tốt ("láng giềng tốt, đối tác tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt"), một bên là Trung Quốc từ từ leo thang xâm chiếm và một bên là Cộng Sản Việt Nam yên lặng cúi đầu chấp nhận. Với những lời hoa mỹ, với những khẩu hiệu tốt đẹp, một phần không nhỏ đất đai dọc theo biên giới, phần lớn Vịnh Bắc Việt, cả Biển Ðông và cả Cao Nguyên Trung Phần, cùng bao nhiêu những khu công nhân Trung Quốc khác trên toàn cõi Việt Nam đã nghiểm nhiên về tay Trung Cộng. Hàng hoá Trung Quốc tràn ngập Việt Nam, ô nhiễm Trung Quốc đầy trên sông nước Việt Nam, thể chế toàn trị Trung Quốc trở thành thể chế khuôn mẫu của Việt Nam, và mệnh lệnh Trung Quốc từ cao xuống thấp được truyền sang để Công Sản Việt Nam thi hành. Chương trình đô hộ và Hán hoá Việt Nam tuần tự diễn tiến.

Sự việc tóm tắt là như vậy nhưng muốn biết rõ, với đầy đủ chi tiết và dữ liệu, với những con số thống kê khoa học, với những phân tích sâu xa để nắm vững vấn đề thì xin hãy đọc cả công trình biên soạn của ba tác giả. Bài "Trung Quốc: Chủ Nghĩa Dân Tộc Cực Ðoan hay Chủ Nghĩa Bành Trướng" của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết cùng với bài "Tham Vọng Bá Quyền của Trung Cộng" của Tiến sĩ Phan Văn Song, bài "Trung Quốc: Ðông Châu Liệt Quốc?" và bài "Âm Mưu Tiến Chiếm Việt Nam của Trung Cộng" của Mai Thanh Truyết chẳng hạn cung cấp nhiều con số thống kê về sự phát triển kinh tế và quân sự Trung Quốc, với những phân tích sâu xa về tham vọng bành trướng bá quyền của Cộng Sản Tàu. Bài "Thái Thú Khiếp Nhược" hay "Giọt Máu Ngư Dân và Nổi Sợ Thái Thú" của Giáo sư Trần Minh Xuận chẳng hạn cho thấy sự cúi đầu vâng lệnh Trung Quốc của những kẻ cầm quyền Cộng sản Việt Nam hiện nay mà Giáo sư Xuân mệnh danh là Thái Thú. Vấn đề Bauxite và tất cả những hậu quả tai hại của nó về đủ mọi mặt được Tiến sĩ khoa học gia Mai Thanh Truyết diễn giải thật rõ ràng đầy đủ trong những bài "Việc Khai Thác Quặng Bauxite ở Việt Nam lợi hay hại?", "Lạm Dụng Môi Trường: Một Bước Ðưa Ðến Bất Ổn Chính Trị", "Những Ðiều Không Tử Tế", và "Vén Lên Màn Bí Mật tại Việt Nam: Quặng Bauxite hay quặng phóng xạ?". Về ô nhiễm, về chất độc trong các thực phẩm và các sản phẩm khác của Trung Cộng thì không ai có thẩm quyền hơn Tiến sĩ Mai Thanh Truyết qua những bài "Hoá Chất và Dược Phẩm Trung Cộng", "Sự Chuyển Dịch Ô Nhiểm từ Trung Cộng vào Việt Nam". Về chánh sách cộng sản toàn trị, độc tài, đàn áp, bóp nghẹt tự do, tước đoạt nhân quyền, dùng xã hội đen, mafia để cai trị, Giáo sư Trần Minh Xuân có nhiều bài rất đáng chú ý như "Bài Học Thiên An Môn và Hồi Ký Triệu Tử Dương", "Ba Luật sư họ Lê với vụ kiện Thái Thú", và "Thái Thú Mafia"... Một số vấn đề quan trọng khác liên hệ tới mối bang giao Việt Trung và tất cả những hậu quả tai hại của mối bang giao lệ thuộc này cũng được ba tác giả khai thác đầy đủ.

Dù cố gắng đến đâu người viết Lời Giới Thiệu này cũng không nói hết được giá trị lớn lao của công trình biên soạn của ba học giả, chính trị gia, tác giả. Xin bạn đọc hãy để thì giờ đọc kỹ tác phẩm để nhận thấy sự ra đời đúng lúc cũng như sự đáp ứng đúng nhu cầu tri thức của người dân Việt yêu nước ở các nơi của công trình biên soạn độc đáo này".

 

Sách sẽ được ra mắt tại Trung Tâm VIVO, số 2260 Quimby Rd, San Jose, Ca 95122; lúc 02.00 giờ chiều Ngày Th? Bảy 19/12/2009, cùng lúc với 2 tác phẩm "Mùa Xuân Ðen" và "Chụp Mũ" của nhà văn quân đội Hải Triều đến từ Canada. Nếu "Mùa Xuân Ðen" là một tập truyện viết từ những sự thật, cảnh thật, người thật, nạn nhân thật mà văn được pha một chút uất hận, một chút đắng cay, một chút chịu đựng, một chút bất cần, một chút khôi hài... trong cảnh cả nước cùng đường khi những người cộng sản lộ nguyên hình là những tên Thái thú phi dân tộc và phi nhân tính ngồi trên ghế thống trị; thì "Chụp Mũ" là tác phẩm viết thẳng sự thật bằng những tài liệu thật, bằng chứng thật mà những kẻ chuyên chụp mũ phải đối mặt với nạn nhân ngoài ánh sáng trong ngày tác giả trình làng sách.

 

Ðiểm đặc biệt đáng lưu ý là các sách được ra mắt ngay trong buổi Hội Luận về Ðại Họa Giặc Tàu và Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn trước hiểm họa Thực Dân mới với các diễn giả gồm Tiến sĩ Lê Minh Nguyên, nguyên Trưởng ban Ðiều hợp Mạng Lưới Nhân Quyền, phó Chủ tịch Ðảng Tân Ðại Việt, đến từ Long Beach; Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, phó Chủ tịch Ðại Việt Quốc Dân Ðảng, đến từ Orange County; và Giáo sư Trần Minh Xuân, thành viên của Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy đến từ Newark.

 

Tất cả đều góp phần không nhỏ trong cố gắng vạch trần tội ác của Giặc Tàu và đám Thái Thú gốc Việt; cùng tìm ra phương cách đấu tranh truy diệt bọn Thái Thú đang cầm quyền tại Việt Nam, giải phóng quê hương khỏi Ðại Họa Giặc Tàu đã và đang khiến đất nước điêu linh từ hơn nửa thế kỷ qua.

 

Hẹn con thư sau,

Giáo Già


//////////////////////////////////////////////////