Nhập Cảng Phế Thải
Kể từ khi Việt Nam bắt đầu mở cửa năm 1986 trở đi, vấn đề nhập cảng các phế liệu từ nước ngoài để tái sử dụng, biến chế thành nguyên vật liệu cho phát triển ở Việt Nam đã trở thành một vấn nạn không nhỏ. Nắm bắt được sự quản lý còn lỏng lẽo nhiều cơ quan nhà nước, doanh nghiệp quốc doanh, thậm chí doanh thương tư nhân đã nhập cảng nhiều phế liệu không đúng quy định, điều nầy đã tạo ra một tình trạng bất ổn định về phế thải xảy ra từ Bắc chí Nam.
Việc nhập cảng phế thải để biến thành nguyên vật liệu hay tái thành phẩm trở thành một kỹ nghệ không nhỏ ở Việt Nam, đặc biệt là ở những thành phố lớn, gần biển, gần biên giới Trung Quốc và Cambodia. Đa số các loại phế thải nhập cảng thường thấy là: giấy vụn đủ loại, giấy carton, các loại nhựa dẽo, vỏ bao nylon phế thải, chai nhưạ hoặc thủy tinh đã được dùng qua, thiết bị cũ, máy truyền hình, máy điện toán v.v…Hiện nay tình trạng nhập cảng ngày càng trở nên phức tạp và có thể nói hai cơ quan Hải quan ở Sài Gòn và Hải Phòng hòan tòan bị động vì tình trạng nầy.
Đứng trước tình trạng hổn tạp trong việc xin giấy phép nhập cảng ở các địa phương, qua đó Việt Nam đã rút được kinh nghiệm trong những năm đầu tiên cho phép nhập cảng, ngày 2/4/2004 Bộ TN&MT đã có ra Quyết định 03/2004/QĐ-BTNMT về việc ban hành quy định về bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập cảng làm nguyên liệu sản xuất. Đaị cương là các phế liệu trườc khi được nhập cảng phải bảo đảm các điều kiện theo quy định như không chứa các tạp chất độc hại. Thêm nũa, tổ chức hay cá nhân nhập cảng phải có kho bãi chứa và có đủ khả năng để xử lý các chất phế thải độc hại đi kèm với phế liệu được nhập cảng.
Quyết định vừa nói gồm 3 Chương và 11 Điều, trong đó Điều 4 có ghi rõ phế liệu nhập khẩu và xử dụng cần phải bảo đảm các nguyên tắc sau là tổ chức hay cá nhân nhập cảng và xử dụng phải hòan tòan chịu trách nhiệm khi xảy ra ô nhiễm môi trường và phải tuân thủ quy định của các Công Ước quốc tế trong vận chuyển mà Việt Nam đã ký kết.
Về việc phân loại, Điều 5 trong QĐ đã khai triển rõ ràng những phế liệu được cho phép nhập cảng gồm 4 nhóm: nhóm kim loại và hợp kim, nhóm giấy và carton, nhóm thủy tunh, và nhóm nhựa dẽo.
Sau cùng vế vấn để xử lý vi phạm cũng được ghi trong quyết định là tùy theo mức độ trầm trọng trong vi phạm, chủ nhân phế liệu nhập cảng có thể bị xử phạt hành chinh trong lãnh vực môi trường hoặc bị truy tố trách nhiệm hình sự.
Mặc dù đã có quy định rõ ràng cũng như việc phân loại phế liệu tương đối chính xác, nhưng tcác cơ quan hải quan hay địa phương vẫn phải bù đầu vì việc nhập cảng bừa bãi vì tuy có luật lệ, tuy có quyết định, nhưng trong hiện tại, trước quá trình phát triển xã hội, ở Việt Nam, việc quản lý trong thời gian qua đã cho thấy rất nhiều sơ hở trong việc ban hành ban hành chính sách cũng như nhân sự quản lý và triển khai chính sách chưa đủ chuyên môn và kinh nghiệm trong điều hành. Do đó có nhiều vấn nạn xảy ra trong vei65c nhập cảng phế liệu. Thêm nữa, trong quá trình nhập cảng, cơ quan hữu trách thường gặp phài nhiều lô hàng phạm pháp trong khi giám định cũng như quyết định chủ nhân của lô hàng phải chịu xử phát và phải tái xuất lô hàng trở về nguyên quán. Nhưng những sự kiện đó cho đến bây giờ vẫn chưa hề xảy ra. Và Việt Nam hiện tại phải chấp nhận thêm một lượng không nhỏ của rác độc hại kỹ nghệ mà không do sản xuất phát thải ra. Một số doanh nghiệp sau khi bị hải quan xử lý đã "bỏ cuả chạy lấy người" hay qua "móc ngoặc" để lại số phế liệu đã biến thành phế thải độc hại cho Hải quan quản lý.
Phần đông, việc nhập cảng phế liệu, nói trắng ra là rác phế thải đếu đến từ đường biển, do đó Cục hải quan là cơ quan trực tiếp chịu trách nhiệm kiểm tra và xét nghiệm. Trên nguyên tắc, một khi xác định được rác nhập cảng không đúng quy định, lô hàng nầy sẽ bị ngăn chận không cho chủ nhân nah65n lãnh và chờ quyết định xử lý. Sau đó, nhân viên sẽ báo cao lên Tổng cục hải quan để có biện pháp giải quyết triệt để, hoặc xử phạt hành chính hay trả về nguyên quán của rác phế thải không hợp lệ. Ngay cà trong Bột Luật Môi trường Việt Nam, Điều 185 cũng đã đưa ra các hình phạt vế tội nhập cảng công nghệ, máy móc, phế thải hoặc những chất không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường.
Dĩ nhiên là Bộ TN&MT là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc thi hành QĐ năm 2004 kể trên, và các Sở TN&MT địa phương có bổn phận kiểm tra và quản lý việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường đối với các phế liệu nhập cảng, cũng như phát hiện, ngăn chặn, và xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong kiểm tra, việc làm quan trọng nhất là xác định các cơ sở sản xuất đã xin nhập cảng phế liệu cần phải tuân thủ những điều kiện sau đây trước khi nhận được giấy phép nhập cảng phế liệu. Đó là phải có kho bãi tiêng để nhập kho, và có đủ năng lực xử lý các tạp chất đi kèm với phế liệu, nghĩa là phải có hệ thống xử lý phế thải thực sự sau khi tách rời các tạp chất từ phế liệu nhập cảng.
Tuy nhiên, các Sở TN&MT cho đến nay vẫn không hòan tất được trách nhiệm trên, từ đó thủ tục nhập cảng vẫn được thông qua dễ dàng ở cấp trung ương và địa phương. Và từ đó nhiều "sự cố" đã xảy ra triền miên. Theo chỗ chúng tôi được biết biện pháp phải tái xuất để trả về nguyên gốc của phế liệu không hợp lệ chưa hề xảy ra, mặc dù đã có hàng trăm quyết định đòi chủ cơ sở xin nhập cảng phải thi hành.
Đặc biệt hơn nữa, ngoài những nhóm phế liệu cho phép nhập cảng kể trên, Sở TN&MT cùng Cục hải quan đã khám phá một số doanh nghiệp (dĩ nhiên là có giấy phép nhập cảng như những cơ quan cấp cao!) đã nhập cảng các mặt hàng cấm như bánh xe cũ, thiết bị cũ phế thải, hoặc amiăng v.v. .. Những mặt hàng nầy vẫm còn ối đọng tại các kho bãi của hải quan, tại các cảng, nhưng vẫn không buộc được các doanh nghiệp vi phạm giải quyết và khắc phục hậu quả. Điềm nầy đã làm tăng thêm mức ô nhiễm và làm tổn hại thời gian cũng như tài chính trong việc bốc dỡ do nạn ối đọng phế liệu vi phạm quy định.
Qua các sự kiện mô tả trên đây, quả thật tình trạng quản lý nhập cảng phế liệu để tái sản xuất rất phức tạp. Có thể nói hiện nay sự kiện nầy vẫn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Việt Nam vì, nếu tình trạng nầy không được giải quyết một cách triệt để Việt Nam sẽ biến thành một bãi rác của thế giới.
Đây là vấn đề hết sức phức tạp. Việt Nam đang đứng trước một nan đề rất khó xử: nhập cảng phế liệu để tái sản xuất hầu hạ giá thành sản phẩm trong việc phát triển quốc gia và chấp nhận môi trường bị ô nhiễm qua việc phục hoạt phế liệu nhập cảng thành nguyên vật liệu cho sản xuất. Hãy lấy công nghệ nhựa dẽo làm thí dụ, hàng năm Việt Nam cần đến 1,2 triệu tấn nguyên liệu hạt nhựa, trong khi năng lực sản xuất trong nước chỉ đạt độ 250 ngàn tấn, do đó việc nhập cảng phế liệu của các laọi nhựa đượccấp giấy phép dể dàng thông qua. Điều không tránh khỏi là trong số giiấy phép được chấp thuận, có không ít những mặt hàng không đúng quy định nhập cảng cũng đã được chấp thuận như trường hợp cty Tín Nhân, Việt Nam và Cty xuất cảng phế liệu Greenwood của Hoa Kỳ.
Thêm nữa, việc phối hợp trong quản lý giữa các cơ quan vốn đã không đồng bộ, cũng như việc diễn dịch còn tùy tiện từng nơi của QĐ 2004 càng làm cho tình trạng ngày càng xấu thêm. Gần đây nhất, việc nhập phế liệu ở biên giới Việt Trung, và Việt Cambodia đã là một đề tài lớb cho báo chí ở Việt Nam như: Chuyển rác nhập qua đường biển chưa giải quyết xong, thì đến việc rác từ biên giới Cambodia… trên báo Sài GònGP.
Sau hết, thêm một loại các phế thải chúng tôi đã truy cập được trên báo chí Hoa Kỳ là hàng năm Hoa Kỳ xuất cảng trên 20 triệu máy truyền hình, điện toán, máy điện tử v.v.. (năm 1998) và 60 triệu (năm 2005) vào ba quốc gia chính là Hồi Quốc, Trung Quốc và Việt Nam. Những quốc gia trên nhập cảng phế liệu nầy để thu hồi cách mạch điện dây điện, nhưng đã quên rằng trong mỗi maý truyền hình có chứa khoảng 1 Kg Chì (Lead) và Thuỷ ngân (Mercury), hai tác nhân tác hại lên thần kinh và trí thông minh của trẻ em đặc biệt trẻ sơ sinh trong thời gian còn nằm trong bụng mẹ nếu bị tiếp nhiễm.
Dự kiến Việt Nam sẽ là một bãi rác của thế giới có thể xảy ra trong tương lai không xa nếu Việt Nam không có những quyết định cứng rắn hơn nữa trong việc nhập cảng phế thải để biến thành nguyên vật liệu trong sản xuất.
Mai Thanh Truyết
West Covina, 2/2008
Radiation
Việt Báo Chủ Nhật, 8/31/2008, 9:03:00 PM
Một loại phế thải độc hại đang làm bận tâm nhiều nhà làm chính sách, nhà khoa học trên thế giới ngày hôm nay là phế thải phóng xạ. Đây có thể nói chính là bộ mặt trái của nền văn minh nhân loại khi phát minh ra nguồn nguyên tử năng để tạo ra năng lượng tiêu dùng trên thế giới ngày hôm nay.
Thông thường, bất cứ một sinh hoạt nào phát sinh hay sử dụng nguyên liệu phóng xạ đều thải hồi ra rác phóng xạ. Trong các hầm mỏ, nhà máy phát điện nguyên tử, trong kỹ nghệ quốc phòng, kinh tế, y khoa, hay trong nghiên cứu áp dụng tia phóng xạ đều sản xuất ra phế thải phóng xạ.
Ngay từ khi thực hiện những áp dụng nguyên tử vào mục tiêu năng lượng như việc xây dựng những trung tâm phát điện, con người vẫn nghĩ rằng vấn để phế thải nguyên tử không phải là một vấn đề quan trọng, và được suy diễn rác phóng xạ cũng như bao loại phế thải khác nghĩa là có thể xử lý hay tái tạo lại được.
Nhưng hiện nay, rác phóng xạ trở thành một vấn đề cấp bách cho các quốc gia trên thế giới vì mức độ an toàn, mức rò rỉ của các hầm chôn cất phóng xạ ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng lên môi trường, cũng như việc xử lý không đơn giản như các dự đoán từ nguyên thủy.
Và ngày hôm nay, việc giải quyết phế thải phóng xạ là một vấn đề phức tạp, không phải vì bản chất của phế thải, mà vì sự phức tạp của những luật lệ liên quan đến sự điều hành và xử lý phế thải phóng xạ lầy. Tại Hoa Kỳ, các cơ quan liên quan đến việc quản lý rác phóng xạ là: Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA), Hội đồng Luật lệ Hạch nhân (NRC), Bộ Năng lượng (DOE), và Bô giao thông (DOT). Rác phóng xạ được phân loại theo nguồn gốc của phế thải chứ không theo nồng độ của từng phế thải. Đó là: 1) Phế thải từ các cọc năng lượng trong lò phản ứng hạch tâm, 2) Phế thải có nồng độ phóng xạ cao ở các lò phản ứng, 3) Phế thải phóng xạ từ các chương trình quốc phòng, 4) Phế thải từ các hầm mỏ uranium, 5) Phế thải có nồng độ thấp, 6) Phế thải từ các máy phát sinh ra phóng xạ như máy X-ray v.v…
Nguồn phóng xạ
Sự phóng xạ là một tính chất đặc biệt của một số nguyên tố như Uranium có thể phát thải ra trong điều kiện thông thường, các tia (radiation) alpha và beta, đôi khi tia gamma do sự phân huỷ tự nhiên (disintegration hay decay) nhân (nuclei) của nguyên tử. Do đó, có nhiều loại phóng xạ mang cường độ khác nhau tuỳ theo số lượng các tia phóng xạ trong mỗi nguyên tố.
Bất cứ áp dụng hiện tượng phóng xạ trên trong việc đem lại phúc lợi cho nhân loại cũng đều tạo ra phế thải phóng xạ hay phế thải hạch nhân (nuclei waste). Và cung cách tiếp cận của nguồn phế thải lầy vào cơ thể chúng ta chính là nguồn nước và không khí.
Nguồn nước bao bọc quả địa cầu là nơi dung dưỡng và phát thải chất phóng xạ vào môi trường. Khi một phế thải phóng xạ đi vào đường nước, các tia phóng xạ đó sẽ được hấp thụ bởi cây cỏ chung quanh nguồn nước trên, cũng như tất cả các sinh động vật sống trong vùng nước bị nhiễm độc trên. Các tia phóng xạ cũng có thể lơ lửng trong không khí và xâm nhập vào cơ thể con người, cây cỏ, thú vật và nguồn đất. Dó đó, con người có thể hấp thụ các chất phóng xạ qua đường nước, không khí, và thực phẩm.
Tựu trung, chất phóng xạ có thể tích tụ trong cơ thể lâu hơn đời sống của con người vì sự bán huỷ (half life) của những tia phóng xạ dài hơn một ngàn năm dựa theo ước tính của Viện Hàn lâm Quốc gia Khoa học Hoa Kỳ (US NAS). Cũng theo ước tính trên thì số lượng rác phóng xạ Hoa kỳ chứa trong năm 1983 phải cần đến 3 triệu năm sau đó mới có thề tự phân huỷ trở về định mức thiên nhiên.
Việc tiếp cận phóng xạ đến từ nhiều nguồn khác nhau:
• Quần áo bảo vệ cơ thể;
• Các súc vật thí nghiệm trong phản ứng có chứa phóng xạ;
• Hệ thống nước làm nguội các nhà máy điện nguyên tử, các cọc phóng xạ (fuel rod), và tất cả dụng cụ trong nhà máy điện nguyên tử;
• Nhà máy tinh chế các cọc phóng xạ;
• Các dụng cụ y khoa có chứa phóng xạ v. v…
Phân loại phế thải phóng xạ
Phế thải phóng xạ được chia ra làm ba loại: phế thải có nồng độ cao, phế thải sau khi tách phóng xạ từ các hầm mỏ gọi là mill tailings, và phế tảhi có nồng độ thấp.
1- Phế thải phóng xạ có nồng độ cao: Đây là nguồn phế tảhi quan trọng nhất gồm các cọc phản ứng phóng xạ trong những nhà máy năng lượng phóng xạ dùng trong thương mại và quốc phòng. Đây là nguồn phế thải có thể phát thải phóng xạ hàng triệu năm sau đó.. Tại Hoa Kỳ, các nàh máy phát điện hạch tâm phát thải hàng năm trên 3.000 tấn phế thải loại lầy, chưa kể các nguồn phế thải trong quốc phòng. Phế thải từ các cọc phản ứng của 100 nhà máy điện hạch tâm ở Hoa Kỳ hàng năm chiếm một diện tích bằng một sân bóng bầu dục và dầy trên một bộ (foot). Chỉ một cọc phản ứng phế thải phát xuất ra trên 1 triệu rems (đơn vị phóng xạ).
Hiện tại, đối với các loại phế thải lầy, những nhà máy năng lượng hạch nhân dùng phương pháp ngâm trong nước lạnh chứa trong bồn chứa bằng chì (lead), nhằm mục đích ngăn chặn sự phát thải của tia phóng xạ gamma và phòng ngừa sự tách rời (fission) của các nguồn phóng xạ còn lại ở trong cọc. Đây chỉ là một giải pháp tạm thời trong khi chờ đợi quyết định của Bộ Năng lượng có thể ban hành trong năm 2008 nơi "an nghỉ" sau cùng ở Nevada…
2- Phế thải từ các hầm mỏ phóng xạ: Đây là nguồn phế thải ph1ongxạ sau khi tinh chế đất, đá có chứa phóng xạ từ các hầm mỏ. Thông thường các mõ uranium chỉ có nồng độ khoảng 1%, tất cả các phần còn lại là phế thải chiếm một diện tích rất lớn phát tảhi phóng xạ có thể làm ô nhiễm nguồn nước và không khí chung quanh vùng được khai thác. Tính đến 1989, toàn quốc Hoa Kỳ chứa 140 triệu tấn loại phế thải nầy, và hàng năm phát thải thêm khoảng 15 triệu tấn. Mặc dù nồng độ phóng xạ thấp, nhưng vẫn có nhiều chất đồng vị có thể tồn tại hàng triệu năm.
3- Phế thải phóng xạ nồng độ thấp: Đây bao gồm tất cả các nguồn phế thải phóng xạ không nằm trong hai loại phế thải trên. Đó là các nguồn nước thải trong các lò phản ứng, những nguồn phóng xạ trong các phòng thí nghiệm, bịn viện, và trong kỹ nghệ. Tuy được liệt kê nguồn phế thải phóng xạ có nồng độ thấp, nhưng điều đó không có nghĩa là không nguy hiểm, vì các tia phóng xạ nầy vẫn tồn tại trong nước và trong không khí hàng ngàn năm sau đó.
Phế thải nầy được chia ra làm hai loại: Phế thải nước chứa các cọc phóng xạ trong thời gian phản ứng; và phế thải từ các khai trung hoà (neutron) trong thời gian tinh chế những cọc phản ứng. Các loại phế thải nầy được chứa tại những địa điểm phát sinh ra phế thải cho đến khi bị phân huỷ (decay) hoàn toàn, và sau đó mới được chuyển tải vào các bãi rác.
Giải quyết phế thải phóng xạ
Đối với những nguồn phế thải có nồng độ phóng xạ thấp, bãi rác dành riêng cho loại phế thải nầy được xây dựng từ những năm 1960. Nơi đây, các đường hầm chứa phế thải được thiết lập sâu dưới bãi rác. Thùng phế thải được chuyển vào các đường hầm trên và được bao bọc bằng những lớp đất được nén cứng để tránh mức độ ẩm có thể ảnh hưởng đến phết thải phóng xạ trong các thùng chứa kín.
Qua ba nguồn phế thải phóng xạ kể trên, phế thải phóng xạ có nồng độ cao là nguy hiểm nhất, và phương cách để tồn trử dài hạn cho loại phế thải lầy cần phải ngăn ngừa hiện tượng rò rỉ ra ngoài nguồn nước hay lòng đất, hoặc không khí. Trước hết cần phải giảm thiểu tối đa thể tích của phế thải, và trong mỗi bồn chứa cần phải ước tính mức độ đồng vị phát thải trong tương lai cũng như phản ứng phát nhiệt cần phải tính toán để các thùng chứa phế thải không bị nứt ra.
Sau cùng, các thùng chứa phế thải được chôn sâu vào lòng đất bao bọc bằng những hầm chứa xây liên cố bằng xi măng dầy.
Từ những năm 1940 đến 1960, những thùng chứa phế thải phóng xạ được chôn vùi dưới long đại dương. Giải pháp nầy được chấm dứt vào năm 1970 khi EPA Hoa Kỳ khám phá ra rằng có ít nhất ¼ các thùng chứa dưới đáy biển bị rò rỉ.
Vào thập niên 1980, Hoa Kỳ mới chọn giải pháp chôn phế thải phóng xạ trong lòng đất và đã chi ra trên 2 tỷ Mỹ kim cho giải pháp nầy bằng cách xây dựng những đường hầm dưới lòng đ ất sâu để chứa những thùng phế thải.
Vào năm 1987, vùng núi Yucca thuộc tiểu bang Nevada, 100 dậm về phía Tây Bắc của thành phố Las Vegas, được chọn làm nơi an nghĩ sau cùng của loại phế thải nầy. Chi phí dự trù thêm là 15 tỷ Mỹ kim và dự định đi vào hoạt động vào năm 2010.
Từ đó đến nay, vẫn chưa có một quyết định sau cùng nào cả vì có nhiều ý kiến từ nhiều phía khác nhau. Những tranh cãi tiếp tục diễn ra, và vấn đề phế thải phóng xạ vẫn còn là một đề tài thời sự.
Những tranh luận về một "bãi rác" cho phế thải phóng xạ
Qua những bất đống quan điểm về mức phóng xạ, sư an toàn sau khi rác phóng xạ được chôn vào lòng đất…các nhà khoa học, kinh tế, và chính trị có nhiều giải pháp đề nghị khác nhau như: 1- Cho tất cả phế thải phóng xạ vào một bồn chứa kín và chuyển tải vào quỷ đạo trái đất; 2- Chôn phế thải phóng xạ dưới các tảng băng vùng Nam cực; 3- Hay táo bạo hơn nữa là phá huỷ (bombard) phế thải phóng xạ bằng bom nguyên tử để biến đổi phế thải thành những đồng vị (isotope) ít độc hại hơn. Nhưng tất cả 3 giả thuyết trên đều không được áp dụng.
Sau cùng giải pháp Yucca vẫn đang còn nằm trên bàn tranh luận cả ở Thượng viện và Tối cao Pháp viện.
Kết luận
Hiện tại, những nhà làm luật của tiểu bang Nevada đang kiện EPA về giải pháp Yucca, mặc dù công trình vẫn đang tiếp tục xây dựng để chứa tất cả những phế thải phóng xạ có nồng độ cao từ khắp nước Mỹ. Các cuộc tranh cãi đang đi vào bế tắc, ít nhất là trong giai đoạn hiện tại sau hơn 60 năm tranh luận về giải pháp giải quyết vấn để phế thải phóng xạ nầy.
Bế tắc vì phế thải được tạo ra chỉ nhằm mục đích giải quyết tiện nghi cho một thành phần dân chúng sống ở nhữnh thành phố lớn. Và thành phần dân chúng phải gánh chịu trước mắt là những vùng nông thôn xa xôi, chẳng những không được hưởng những phúc lợi trên mà còn phải đối mặt với nguy cơ phát sinh ra từ bãi rác.
Cũng như trong tương lai, con người hiện tại hưởng tất cả thành tựu về việc ứng dụng nguyên tử và hạch nhân trong đời sống; trong lúc đó di hại sẽ còn kéo dài nhiều thế hệ tiếp theo sau. Đây chính là điểm bất công nhất dưới tầm nhìn của những nhà tương lai học và dưới quan điểm toàn cầu hoá.
Từ những suy nghĩ trên, thiết nghĩ một vài biện pháp căn bản sau đây có thể góp phần vào việc giải quyết vấn nạn phế thải phóng xạ trong khi chờ đợi một giải pháp tối ưu cho vấn đề. Đó là:
1- Cần phải hạn chế thể tích phế thải phóng xạ bằng cách cô lập bộ phận thực sự phát thải phóng xạ mà thôi;
2- Phân tích và tách rời các loại phế thải có mức độ tự huỷ (decay) khác nhau để giảm thiểu diện tích của bãi rác;
3- Hạn chế và nếu có thể, chấm dứt việc sử dụng năng lượng hạch tâm;
4- Phát triển nghiên cứu các loại năng lượng sạch và năng lượng tái tạo nhằm mục đích giải quyết vần đề cũng như hạn chế được hiện tượng hâm nóng toàn cầu.
Làm được các điều trên, theo ước tính của nhiều nhà khoa học, sẽ giải quyết được một phần nào bế tắc của giải pháp Yucca tại Hoa Kỳ cũng như ở các quốc gia phát triển Âu Châu.
MAI THANH TRUYẾT
Bài Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ
Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ
Vén Lên Màn Bí Mật Tại ViệT Nam:
Quặng Bauxite hay Quặng Phóng Xạ?
Trong hiện tại, chúng ta có thể nói một cách chính xác và không sợ phản biện là những người lính Tàu dưới dạng công nhân đang hiện diện đầy rẫy trên quê hương Việt Nam của chúng ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, giống như mọi quốc gia trên thế giới như Tây Tạng, Tân Cương, Phi Châu…những nơi có dấu chân TC khai thác các công trình quặng mỏ hay những công ty sản xuất khác tại những nơi nầy.
Cộng sản Việt Nam cũng như Trung Cộng (TC) cũng không thể nào chối cải được nhận định trên. Tại Việt Nam, người Trung hoa dù dưới dạng công nhân hay chuyên viên, mỗi khi vào một công ty nào đó đều sinh hoạt hoàn toàn riêng rẽ , nói chuyện với nhau bằng tiếng Hán mà thôi. Họ xây dựng lều trại làm nơi ăn ở, giải trí và có cuộc sống hoàn toàn cách biệt với các cộng sự viên người Việt. Thậm chí, mỗi khi có tranh cãi, họ ăn hiếp, đánh đập công nhân Việt. Thật không có gì nhục nhã cho bằng hiện tượng nầy xảy ra ngay chính trên mãnh đất quê hương của mình mà cán bộ hay công an cố tình làm ngơ trước những nghịch cảnh trên.
Những khu biệt lập nầy do TC hoàn toàn quản lý mọi sinh hoạt, không có người "lạ" nào hay cán bộ, công an Việt Nam có thể bén mãn đến được, mặc dù những công ty họ làm việc, đa số đều do người Việt quản lý.
Cho đến hôm nay, những tệ trạng trên tiếp tục diễn ra ở khắp mọi nơi, tạo nên một luồn sóng phẩn uất trong lòng người Việt, và thiết nghĩ những người công nhân lương thiện nầy sẽ có ngày đứng lên dành lại quyền công nhân thực sự và sẽ không để công nhân TC hiếp đáp mãi mãi được.
Những sự kiện tương tự cũng đã từng xảy ra ở những quốc gia có người Hán xâm nhập, đôi khi đi đến đổ máu như ở Tân Cương, Tây Tạng, và gần đây nhứt tại thành phố Alger, Algeria, qua những nguyên nhân hết sức cá nhân, nhưng từ đó xảy ra những cuộc đụng độ có tích cách chủng tộc vì sự hống hách, ức hiếp của người Hán trên mãnh đất quê hương của người bản xứ.
Trờ lại Việt Nam, riêng tại hai vùng hiện đang là điểm nóng ở Việt Nam; đó là Tân Rai ở Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông. Hai nơi nầy hiện đang được TC phát động kế hoạch khai thác quặng mỏ bauxite từ hơn một năm nay dưới sự đồng thuận của CS VN. Sau khi không thể bưng bít được từ hơn 6 tháng nay, cs VIỆT NAM đã phải bạch hoá công bố hai công trình trên mặc dù đã ký kết với TC từ năm 2001 giữa Nông Đức Mạnh và Hồ Cẩm Đào, qua quá nhiều áp lực của đông đảo từng lớp dân chúng ở quốc nội cũng như ở hải ngoại cảnh báo về hiễm hoạ từ môi trường, kinh tế, chính trị, và quân sự nếu để cho TC khai thác hai vùng nầy.
Nhưng trầm trọng hơn cả là qua việc nhường bước cho TC khai thác, cs VIỆT NAM để lộ ra tinh thần quốc tế vô sản (?) (mà bây giờ đã biến thành tinh thần quốc tế hữu sản chăng?) trong việc hợp tác với TC. Và đây cũng có thể được xem như là một tiến trình then chốt của việc tiến chiếm Việt Nam không tiếng súng của TC.
Ngay từ giờ phút nầy (8/2009), đã có sự hiện diện của trên 570 công nhân TC ở Tân Rai và trên 300 ở Nhân Cơ. Đây là những con số do chính Ủy Ban nhân dân ở hai tỉnh trên công bố. Thiết nghĩ, con số thực sự chắc phải cao hơn nhiều và theo như dự kiến của hai công trình khai thác trên, con số công nhân TC sẽ đạt đến 5.000 người cho mỗi nơi.
Có nhiều câu hỏi được đặt ra cho tình trạng nhân sự TC ở hai địa điểm trên là, tại sao họ có mặt hơn một năm qua mà vẫn chưa hoàn tất việc chuẩn bị mặt bằng cho cơ xưởng, giải quyết các vụ đuổi nhà, chiếm cứ các vườn trồng cây công nghiệp của dân như trà, cà phê, cao su v.v…mà chỉ lo xây dựng láng trại và nhà ở cho công nhân và chuyên viên cùng những dịch vụ sinh hoạt khác như giải trí riêng biệt và cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài bằng hàng rào được thiết lập chung quanh? Đây là một tiến độ công trình rất chậm so với số lượng nhân công hiện có và thời gian thi công. Và điều nầy đang làm ngạc nhiên cho những nhà quan sát có kinh nghiệm về hoạt động công trường.
Từ đó, câu hỏi khác được đặt ra là, họ có thực tâm đến đây để khai thác quặng mỏ bauxite hay không?
Hay là họ có những dự tính thâm độc nào khác mà việc khai thác quặng mỏ bauxite chỉ là Diện để chứng minh sự có mặt của họ, và trọng tâm chính của họ là Điểm, là khai thác một công trình bí mật nào khác?
Để trả lời và khơi mở một số nghi vấn trên, cũng như qua đề tựa của bài viết, người viết xin lần lượt tạo dựng ra nhiều giả thuyết qua các thông tin có được để từ đó chứng minh sự hiện diện và hành động của TC trên mãnh đất quê hương Việt Nam.
Việc khai thác quặng mỏ Uranium
Cao nguyên Trung phần Việt Nam là một phần của cao nguyên Bolloven. Nơi sau nầy là một vùng đất bazan, chuyển hoá từ phún xuất thạch của núi lửa hàng triệu năm qua. Do đó, hàm lượng phóng xạ của vùng đất nầy rất cao so với các vùng đất tự nhiên khác. Và sác xuất có quặng mỏ Uranium cũng rất cao.
Để có khái niệm về việc khai thác quặng mỏ Uranium, sau đây là quy trình sơ lược dựa theo các nguyên tắc căn bản đang được sử dụng trên thế giới. Thông thường quặng Uranium có được là do sự phối hợp của hai chất đồng vị (isotope) Uranium: Uranium 235 và Uranium 238. U 238 được xem như là đồng vị nặng vì có 3 electron nhiều hơn U 235 . Chính U 235 mới đích thực là tác nhân tạo ra nguồn năng lượng cho nhân loại và thông thường có trữ lượng trong hỗn hợp quặng mỏ là 0,7% mà thôi.
Việc khai thác gồm:
· Quặng Uranium trong thiên nhiên cần phải được tách rời hai đồng vị 238 và 235;
· Sau đó Uranium 235 sẽ được tinh luyện hay làm giàu (enrich) để đạt được nồng độ Uranium cần thiết để ứng dụng trong nhiều mục tiêu khác nhau.
Việc tinh luyện Uranium gồm 3 phương pháp: ly tâm, khuếch tán vật lý, và dùng tia laser. Các quốc gia như Pakistan, Ấn Độ, Bắc Triều Tiên hay Iran vẫn còn đang áp dụng phương pháp cổ điển là ly tâm. Trong lúc đó, ở các quốc gia phát triển khác như Hoa Kỳ và Tây Âu, hai phương pháp sau được dùng đến vì có hiệu quả và năng suất cao hơn. Muốn chế tạo ra bom nguyên tử, ít nhứt, nồng độ của Uranium cần phải đạt được là 80%. Đối với các nồng độ thấp hơn, tuỳ thuộc vào những ứng dụng khác nhau trong việc dùng trong các nhà máy phát điện nguyên tử hay các hệ thống an toàn trong một số dịch vụ thật chính xác trong quy trình sản xuất mà con người không đủ khả năng để điều chỉnh bằng tay hay mắt được.
Trung Tâm Nguyên Tử Lực Cuộc
Đây là một trung tâm nghiên cứu về nguyên tử và phóng xạ được người Pháp xây dựng từ giữa thập niên 50 ở thế kỷ trước. Hiện nay, Trung Tâm vẫn còn hoạt động. CS VIỆT NAM dùng Trung tâm nầy để sản xuất các dụng cụ, hệ thống sensor để kiểm soát hay vận hành những khu vực hiểm yếu trong các công nghệ mhư khai thác mỏ than, hay các thiết bị kiểm soát trên tàu bè, cũng như trong các lãnh vực kiểm soát các valve an toàn về áp suất hay nhiệt độ, hoặc điều chỉnh một cách chính xác việc thay đổi điều kiện trong các quy trình sản xuất. Quan trọng hơn cả là việc ứng dụng vào các valve an toàn khi có vấn đề cấp bách trong vận hành để hạn chế hay tránh tai nạn.
Hiện tại, Việt Nam đang nhập cảng nguyên liệu phóng xạ từ nước ngoài.
Câu hỏi được đặt ra nơi đây là, tại sao người Pháp cho lấp đặt Trung Tâm nầy tại Đà Lạt vào thời điểm trên, trong khi quốc lộ 20 nối liền Sài Gòn và Đà Lạt chỉ là một con lộ thô sơ, chưa được tráng nhựa đẩy đủ?
Phải có điều gì bí ẩn khiến cho họ thành lập Trung Tâm nầy?
Để trả lời hai câu hỏi trên, phải chăng là họ muốn xây dựng Trung Tâm gần nơi vùng có phóng xạ để nghiê cứu, thăm dò, và khai thác nguồn nguyên liệu phóng xạ tại chỗ?
Ngược dòng lịch sử, trong giai đoạn chiếm đóng ngắn ngũi của Nhât Bổn vào thế chiến thứ hai, họ cũng đã gởi nhiều phái đoàn địa chất để thăm dò vùng nầy. Và trong thời gian chiến tranh Mỹ-Việt, nhiều phái đoàn nghiên cứu của Hoa Kỳ cũng đi lại thường xuyên trên vùng Bolloven nầy. Thêm một nguồn tin từ một niên trưởng giáo sư hiện ở Phoenix, vào cuối năm 1944, một chiếc tàu Nhật trên đường từ Việt Nam trở về Nhật bị quân đội Đồng minh đánh chìm vì bị nghi có chở một số mẫu quặng mõ Uranium lầy từ Cao nguyên Trung phần.
Nhưng tất cả đều được giữ bí mật. Không có một báo cáo khoa học nào công bố về vấn đề trên hay cho biết vùng đất nghiên cứu có chứa nguồn nguyên liệu phóng xạ Uranium hay không?
Giả thuyết về sự hiện diện của TC trong vùng Cao nguyên Trung phần
Ngày 21 tháng 4 năm 2009, tại Công ty NWT Uranium Corp. ở Toronto, Canada, Ông Chủ tịch Tổng Giám Đốc John Lynch đã công bố bản tin sau khi họp với đối tác là Việt Nam rằng, Công ty đã đồng ý trên nguyên tắc về việc chia sẻ, khai triển và khai thác quặng mỏ Uranium ở Việt Nam. Quả thật đây là một chỉ dấu cho thấy giả thuyết có nguồn nguyên liệu phóng xạ ở cao nguyên Trung phần Việt Nam là có thật. Chính nhờ đó mới có những giao kết thăm dò và khai thác giữa Việt Nam với các đối tác khác. Và TC, đã nắm bắt cũng như biết nguồn nguyên liệu nầy, vì vậy cho nên mới thực hiện dự án khai thác quặng mỏ bauxite để đánh lạc hướng thế giới thêm một lần nữa.
Theo ước tính sơ khởi của công ty NWT thì cao nguyên có trữ lượng là 210 ngàn tấn quặng oxid uranium (U3O8) với nồng độ trung bình là 0,06%. Và ở một tài liệu khác cho biết hàm lượng quặng mỏ oxid uranium ở mỏ than Nông Sơn, Quảng Ngãi là 8.000 tấn quặng và có cùng một nồng độ trung bình với oxid uranium ở Cao nguyên.
Qua hai thông tin trên, một lần nữa có thể cho chúng ta có một kết luận một cách xác tín là với mức độ quan trọng về nguồn nguyên liệu nầy khiến cho nhiều quốc gia như Pháp, Nhật, và Hoa Kỳ đã biết trước nhưng không công bố mà thôi vì điều kiện an ninh của Việt Nam trong thời chiến lúc bấy giờ không cho phép.
Ngày hôm nay, TC đã biết và thay vì đến Việt Nam để khai thác nguồn nguyên liệu quý giá về phương diện quốc phòng nầy, họ đã đánh lận con đen để nói tráo qua việc khai thác quặng mỏ Bauxite.
Với hàm lượng oxid uranium kể trên, có thể ly trích và khai thác được hàng trăm Kg Uranium có nồng độc cao có thể ứng dụng vào trong kỹ nghệ quốc phòng và quân sự.
Thêm nữa có hai chi tiết sau đây để củng cố giả thuyết về việc TC đang bí mật chuẩn bị việc khai thác quặng mỏ Uranium:
· Mỏ than Nông Sơn đã được VNCH khai thác từ năm 1961, và vẫn được vận hành từ đó đến nay, và hoàn toàn không có tai nạn nào xảy ra ở TQ. TC với tư cách nào và với lý do gì đã đem trên 200 chuyên viên vào nơi đây từ 6 tháng qua?
· Một phần cao nguyên Bolloven nằm trên địa phận Lào đã được TC thuê mướn trong vòng 50 năm?
Hai chỉ dấu sau nầy chính là cái chìa khóa để mở toang cánh cửa bí mật giữa cs VN và TC trong việc khai thác quặng mỏ Bauxite ở Cao nguyên Trung phần Việt Nam.
Việc khai thác nầy chỉ là Diện để che mắt thế giới, và Điểm chính là việc tìm kiếm, khai thác, ly trích và tinh luyện chất phóng xạ Uranium 235 để làm tăng lợi khí "cường quốc" của Hán tộc.
Và đây mới là điểm then chốt của tham vọng quyền lực của TC với sự đồng thuận của đảng cộng sản Việt Nam.
Ảnh hưởng của việc khai thác quặng mỏ Uranium
Đứng về mặt môi trường, quy trình khai thác quặng mỏ Uranium tương đối phát thải phế thải ít hơn và dễ bảo quản cũng như kiểm soát hơn việc khai thác bauxite. Tuy hai công trình đều đem đến sự hủy diệt thảm thực vật ở miền Cao nguyên nầy, nhưng đứng về hiệu quả kinh tế, phát triển quốc gia, cũng như quốc phòng, việc khai thác Uranium chiếm nhiều ưu thế hơn cả. Lý do là trong vòng 10 năm nữa Việt Nam sẽ đưa vào hoạt động hai nhà máy phát điện nguyên tử tại Ninh Thuận, cho nên việc khai thác Uranium 235 nầy có thể là nguồn cung cấp nguyên liệu cho nhà máy, và Việt Nam có được tính chủ động không tùy thuộc vào nước ngoài để có thể bị áp lực của các quốc gia cung cấp nguyên liệu phóng xạ trên.
Thêm một điểm cần lưu ý là, nếu Việt Nam chủ động và làm chủ được nguồn nguyện liệu quan trọng và hiếm quý nầy, vị trí của Việt Nam trên thương trường quốc tế sẽ được bảo đảm cũng như tư thế chính trị cũng sẽ được nâng cao vì nguyên liệu nầy sẽ là một yếu tố quyết định trong các mặc cả trong nhiều lãnh vực nhứt là quốc phòng đối với những quốc gia khác trên thế giới.
Thay lời kết
Qua những nhận định vừa nêu trên, giả thuyết về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên Trung phần và ở Nông Sơn có tính xác tín rất cao. Và giả thuyết nầy lại là một lý giải cho sự hiện diện của những người lính dưới dạng công nhân ở hai nơi nầy.
Nếu suy nghĩ trên trở thành hiện thực, người Việt quốc gia ở quốc nội và hải ngoại phải làm gì trước những diễn biến đang xảy ra trên quê hương?
Một điều không thể chối cải được là tiến trình Hán hóa Việt Nam của TC đã thể hiện rất rõ ràng. Đây là một tiến trình tiệm tiến giống như trường hợp của Tân Cương và Tây Tạng.
Ngay sau khi chiếm đóng Trung Hoa lục địa, và nhứt là lợi dụng tình trạng còn lõng lẽo của Hội Quốc liên, tiền thân của Liên Hiệp quốc thời bấy giờ (1949), Mao Trạch Đông vội vàng chiếm đóng quốc gia Tây Turquistan và đổi tên thành Tân Cương, cũng như chiếm Tây Tạng vào năm 1959. Tiếp theo sau, chính sách Hán hóa bắt đầu thực hiện bằng cách cho người Hán nhập cư vào hai nơi nầy để rồi lần lần đồng hóa bằng những cuộc hôn nhân dị chủng. Hồ Cẩm Đào, ngày nay vẫn tiếp tục chương trình trên và kết quả hiện tại là dân Tây Tạng trở thành thiểu số trên chính quê hương mình, và dân Tân Cương chỉ còn chiếm 42% trên tổng số cư dân tại nơi đây.
Qua hai diễn biến lịch sử kể trên, Việt Nam chắc chắn sẽ nằm trong "tầm bắn" của TC trong chính sách nầy trong một tương lai không xa.
Hẳn chúng ta còn nhớ, vào những tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, hai món hàng dầu hỏa và quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên đã được chính quyền thời bấy giờ mặc cả với nhiều quốc gia đối trọng khác nhau ngõ hầu cứu vãn miền Nam, nhưng bị thất bại. Và ngày hôm nay, nguy cơ nguồn nguyên liệu quốc phòng nầy sẽ lọt vào tay TC rất cao.
Chính vì thế, một trong những việc làm cấp bách hôm nay là phải cảnh báo cho thế giới biết rõ âm mưu của TC về việc khai thác quặng mỏ Uranium ở Cao nguyên và Nông Sơn, để từ đó mượn áp lực chính trị và kinh tế của thế giới để đình chỉ việc khai thác trên.
Nếu không, TC, một khi làm chủ được nguồn nguyên liệu nầy sẽ mọc "thêm râu thêm cánh" và ngang nhiên tung hoành như đi vào chỗ không người. Tinh thần Hán tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng của TC càng được đẩy mạnh thêm lên qua quyển Tân Biên Sử mới của TC mà biên giới gốm thâu cả vùng Đông Nam Á, Miến Điện, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nam Bắc Hàn v.v…
Bằng bất cứ giá nào, người Việt khắp nơi sẽ không để nguồn nguyên liệu nầy lọt vào tay TC. Nếu không, Việt Nam sẽ biến thành một vùng tranh chấp quốc tế và thảm họa sẽ khó lường trong tương lai một khi đã có tranh chấp.
Việc liên kết với các quốc gia ASEAN trong giai đoạn nầy để tạo hậu thuẫn trong các cuộc tranh chấp với TC là một trong những điềiukiện tối cần thiết trong lúc nầy. Cũng cần phải nói thêm là việc kết đoàn với Ấn Độ, một đối lực ngang ngữa với TC cũng là việc nên làm. Ấn Độ cũng vừa có một quyết định sáng suốt trước hiễm hoại TC là chấm dứt hợp đồng xây dựng đường ống dẫn dầu khí xuyên qua Ấn Độ, Miến Điện và Vân Nam (TQ). Đây là bước ngăn chặn có hiệu quả nhứt trước sự bành trướng của TC.
Sư kết đoàn giữa quốc nội và hải ngoại, giữa Việt Nam và quốc tế rất cần thiết trong lúc nầy vì chính đảng Cộng sản Việt Nam đã bất lực một khi để sự việc kể trên xảy ra cho đất nước trong lúc họ có khả ngăn chặn từ lúc đầu.
Lịch sử Việt Nam sẽ không quên tội ác kể trên!
Mai Thanh Truyết
08/2009
Ghi chú 1: Tin giờ chót, Theo báo Thanh Niên ngày 6/8/2009, Ông Trần Xuân Hương, Bộ trưởng Bộ Môi trường & Tài nguyên vừa công bố ngày 4 tháng 8 là Việt Nam quyết định thăm dò và khai thác quặng mỏ Uranium ở Nông Sơn, ước lượng có trữ lượng 8.000 tấn quặng oxid uranium U3O8. Việc khai thác nầy chia làm hai đợt cho đến 2020.. Đối với một số địa điểm khác, ông cũng có nêu tên tỉnh Lâm Đồng nhưng không nói cụ thể như trường hợp Nông Sơn cũng như tên Đắk Nông cũng không được nhắc tới. Phải chăng đây là hai vị trí cấm kỵ và nhạy cảm vì còn nằm dưới chiêu bài khai thác quặng mỏ bauxite của TC?
Và Ông cũng cho biết là đã ký Biên bàn ghi nhớ (Memorendum of Understanding) với Ấn Độ trong việc nghiên cứu và định hướng về công nghệ áp dụng cho việc khai thác quặng mỏ Uranium trên.
Ghi chú 2: Đề tài nầy đã được Đài Á châu Tự Do (RFA), Đài Úc châu Trong Chương trình Ban Việt Ngữ Express Radio, Đài truyền hình VHN (CA, USA) cùng Radio Bolsa (CA) phỏng vấn.